Ông “Vua” thủy điện...

Ông “Vua” thủy điện...
Người đó là Tiến sĩ Nguyễn Đình Tranh, nguyên Thứ trưởng Bộ Điện và Than (sau này là Thứ trưởng Bộ Điện lực, Năng lượng), nguyên Trưởng ban thiết kế (Ban A) của Thuỷ điện Hòa Bình.

Dự thi viết “Công trường TNCS xây dựng thủy điện - hôm qua và hôm nay”:

Ông “Vua” thủy điện...

Sau khi đã nghỉ hưu, Tiến sĩ Tranh (ngoài cùng, bên trái) vẫn lặn lội trên thượng nguồn các dòng sông…
Sau khi đã nghỉ hưu, Tiến sĩ Tranh (ngoài cùng, bên trái) vẫn lặn lội trên thượng nguồn các dòng sông…

Chọn tuyến, xác định độ cao con đập, đặt nhà máy trong lòng núi… những vấn đề tối quan trọng đã được quyết định trước khi tiếng mìn khai sơn phá thạch gầm vang. Thoáng chốc một thời rộn rã say mê nơi công trường xây dựng Thuỷ điện Hoà Bình đã lùi vào dĩ vãng, càng lùi xa hơn nữa cái thời thăm dò khảo sát, rồi tranh luận, rồi thiết kế trên những trang giấy… Và tôi quyết định gặp một người đã từng đề xuất những ý kiến cực kỳ quan trọng nhưng còn ít ai biết đến đối với công trình vĩ đại của đất nước.

Người đó là Tiến sĩ Nguyễn Đình Tranh, nguyên Thứ trưởng Bộ Điện và Than (sau này là Thứ trưởng Bộ Điện lực, Năng lượng), nguyên Trưởng ban thiết kế (Ban A) của Thuỷ điện Hòa Bình. Tôi gặp Tiến sĩ Tranh từ mấy năm trước, tại diễn đàn của Hội Thuỷ lợi, bàn về Thuỷ điện Sơn La...

Lần này gặp lại, tôi đề xuất muốn được tìm hiểu những đóng góp của ông đối với Thuỷ điện Hoà Bình. Tiến sĩ Tranh từ chối thẳng thừng: “Thuỷ điện Hoà Bình vĩ đại lắm. Phải viết về hàng trăm con người. Một vài người, không nói hết được đâu”. Tôi phải gợi ý: “Chúng tôi từng được nghe ông phát biểu đặt nhà máy trong lòng núi kinh tế hơn, thi công an toàn hơn và nhanh hơn, so với xây nhà máy ngoài trời. Nay ông vẫn bảo vệ luận điểm này chứ ạ?”. Với câu hỏi này, ông đồng ý có một cuộc trò chuyện. Đây cũng là một nét tính cách của Tiến sĩ Tranh: Để chứng minh một luận điểm mà ông cho là đúng, là có ích cho dân, cho nước, ông không hề ngần ngại và không hề tiếc công sức, cho dù đó là vấn đề gai góc, đôi khi “nghịch nhĩ” với nhiều người.

4 kỷ lục thế giới!

Tiến sĩ Tranh khẳng định: Thuỷ điện Hoà Bình hiện đang giữ 4 kỷ lục thế giới: 1) Đập cao nhất thế giới trên nền phù sa (nền mềm); 2) Lưu lượng đơn vị xả lũ lớn nhất thế giới; 3) Quy mô xả sâu lớn nhất thế giới; 4) Quy mô gian máy ngầm lớn nhất thế giới.
Quả là đáng tự hào về một công trình vĩ đại, nhất là khi chúng ta xây dựng công trình này khi đất nước vừa qua khỏi hai cuộc chiến tranh tàn khốc, vẫn chưa thoát cảnh đói nghèo và lạc lậu! Tiến sĩ Tranh cho biết thêm, việc khảo sát-thiết kế Thuỷ điện Hoà Bình (rộng ra là các phương án thuỷ lợi-thuỷ điện trên sông Đà và các con sông khác như Lô, Gâm, Chảy…) đã được tiến hành những thập niên 1960-1970. Thoạt đầu, còn có cuộc tranh luận nên xây thuỷ điện trên sông Đà trước hay trên Lô - Gâm trước. Xây trên sông Đà trị thuỷ tốt hơn, phát điện nhiều hơn. Tuy nhiên, bài toán về kỹ thuật, về vốn, sẽ phức tạp hơn xây thuỷ điện trên Lô - Gâm. Tiến sĩ Tranh ngày ấy đứng về phía thuỷ điện trên sông Đà. Khoảng năm 1971, cuộc tranh luận ngã ngũ về phía sông Đà, cụ thể là phương án 2 bậc thang - Hoà Bình và Sơn La cao. Năm 1971, mũi khoan thăm dò địa chất đầu tiên được thực hiện ở Hoà Bình. Trong tình hình chiến tranh đánh phá miền Bắc bằng không quân của giặc Mỹ vẫn đang khốc liệt, Đảng và Nhà nước ta, với sự giúp đỡ của nước bạn Liên Xô, vẫn quyết định mở một chiến dịch quy mô hết sức to lớn trên mặt trận kinh tế - chiến dịch trị thuỷ và phát điện trên sông Đà.

An toàn là số 1

Việc khảo sát địa hình, chọn tuyến đập được thực hiện khẩn trương trong những năm 1972 - 1975. Chuyên gia Liên Xô, chuyên gia Việt Nam đề xuất 10 tuyến đập theo chiều dài 40 km của sông Đà thuộc địa bàn tỉnh Hoà Bình. Tiến sĩ Tranh đề xuất tuyến đập mé trên TX Hoà Bình. Các phương án được đặt lên bàn, cùng đánh giá, phân tích. Đến năm 1975, quy về 4 tuyến đập trong vòng 4 km, mỗi tuyến đều được tính toán kỹ càng. Ngày 30/12/1978, quyết định phê duyệt thiết kế kỹ thuật công trình Thuỷ điện Hoà Bình được Bộ trưởng Bộ Điện và Than thừa uỷ nhiệm Thủ tướng ký. Tuyến đập được chọn chính là tuyến Tiến sĩ Tranh đề xuất, cũng chính là nơi đặt đập và nhà máy hiện nay.

“Không chỉ Thuỷ điện Hoà Bình, mà những đề xuất về tuyến đập của ông đều được đánh giá là tối ưu và được chấp nhận, đối với Thuỷ điện Trị An, Thuỷ điện Thác Mơ, Thuỷ điện Vĩnh Sơn, Thuỷ điện Yaly, Thuỷ điện Hàm Thuận-ĐaMi, Thuỷ điện ĐrâyH’linh, Thuỷ điện Sông Hinh… Đâu là bí quyết để ông đưa ra những đề xuất chính xác như vậy?”.
Ông cười: “Khoảng 20 công trình thuỷ điện, tôi đề xuất tuyến đập, đều được chấp nhận. Gần đây nhất là tuyến Nậm Nhùn (Thuỷ điện Lai Châu). Cái này, không phải cứ đặt bút tính mà được. Phải có kinh nghiệm. Có người nói vui là phải có con mắt của Viện sĩ!”.
Lại nói về Thuỷ điện Hoà Bình. Ngày ấy, phía Việt Nam đề xuất mực nước dâng bình thường (MNDBT) cho Thuỷ điện Hòa Bình là 105m, phía bạn Liên Xô đưa phương án 115m. Cuối cùng, 115m được chấp nhận, chủ yếu để phù hợp với thiết bị. Theo tính toán của Liên Xô, độ cao con đập là 125m. Ông Tranh đề xuất tăng thêm 3m. Lại tranh luận, tính toán, và lại được chấp nhận: đập cao 128m. “Tăng thêm 3m, khối lượng đất đá đào đắp tăng thêm khoảng 1 triệu m3 (từ 24 lên 25 triệu m3)”, Tiến sĩ Tranh nhớ lại - “Điều này không đơn thuần là con số. Bởi phía dưới con đập là Hà Nội, là đồng bằng Bắc Bộ!”.
…Tôi chợt nhớ lại những cuộc hội thảo gần đây của Hội thuỷ lợi Việt Nam, người đăng đàn diễn thuyết chủ yếu là Tiến sĩ Tranh. Ông đưa ra những lập luận, những tính toán, nhằm hạ độ cao MNDBT của Thuỷ điện Sơn La từ 265m xuống 205m (từ Sơn La cao xuống Sơn La thấp). Ông nói rõ rằng, chính ngày xưa, ông đề xuất phương án 2 bậc thang trên sông Đà, với Sơn La có MNDBT 265m. Nay ông “giác ngộ”, ông xin “sửa sai”, ông ủng hộ Sơn La thấp, ủng hộ phương án 3, thậm chí là 4 bậc thang trên sông Đà trước hết vì lý do an toàn! Tôi cũng nhớ rằng, những năm vừa qua, đã có những lúc phương án Sơn La cao dường như đã thắng thế, đã được quyết định. Và rồi, cuối cùng, Sơn La thấp được Quốc hội, được Bộ Chính trị lựa chọn.

(Còn nữa)