TP - Gọi Kỳ án Na Hang là “Vụ án hy hữu!”. Bởi, mặc dù đã trải qua 2 lần điều tra bổ sung, 2 lần ra cáo trạng nhưng trong hồ sơ vẫn thể hiện phải hoãn tới 14 phiên tòa sơ thẩm trong vòng chưa đầy 17 tháng.

>> Kỳ 1: Bà còng và những sinh linh
>> Kỳ 2: Vụ án hiếp dâm xôn xao thị trấn vùng cao

Còn theo ghi chép của gia đình bị cáo thì con số thực tế phải hoãn tới 19 phiên, tới phiên thứ 20 ngày 29/5/2006, TAND tỉnh Tuyên Quang mới tuyên án sơ thẩm. Đây quả thực là một kỷ lục trong lịch sử tư pháp nước ta.

Nhân chứng khai tiền hậu bất nhất

Trong vụ án này có 2 nhân chứng quan trọng nhất mà người ta dùng làm chứng cứ buộc Đinh Xuân Đắc tội “hiếp dâm trẻ em”, đó là ông Cháng Phúc và bà Đinh Thị Bảy.

Trước hết nói về ông Cháng Phúc. Ông sinh năm 1947, tổ phó dân phố 12 thị trấn Na Hang. Tại bản án ngày 29/5/2006 nêu “Đinh Xuân Đắc đã đến nhà ông Vũ Đình Thị, mục đích dàn xếp việc Đắc quan hệ tình dục với cháu H…

Ông Vũ Đình Thị và ông Cháng Phúc xác nhận: Đinh Xuân Đắc đã nhận bồi thường 2 triệu đồng nhưng sau đó không thực hiện”. Có một thực tế không chỉ ông Phúc mà cả ông Thị, bà Hoa đều không thể phủ nhận và chối cãi được là giữa gia đình ông Phúc, ông Thị và bà Hoa có quan hệ họ hàng với nhau.

Song, điều không bình thường và không thể chấp nhận được là trong suốt quá trình điều tra, truy tố, xét xử, cả ba người đều khai không có quan hệ họ hàng mà chỉ là hàng xóm. Việc khai gian dối này đến phiên tòa sơ thẩm ngày 24/6/2005 mới bị phát hiện.

Vì sao ông Phúc, ông Thị, bà Hoa “đồng lòng” khai gian dối quan hệ này?

Một việc đáng ngờ hơn là tại biên bản do ông Phúc lập ngày 22/12/2003 tại nhà ông Hoàng Văn Quận - Tổ trưởng - về việc mẹ con bà Hoa đến nhà ông báo cáo sự việc cháu H. chiều 20/12/2003 đi lấy củi bị ông Đắc hiếp dâm.

Nhưng sau khi lập xong biên bản, ông Phúc không đưa cho tổ trưởng hoặc báo cáo cơ quan chức năng, mà lại mang về nhà “cất giữ” kỹ lưỡng không nói với ai, cho mãi tới ngày 20/10/2004 (sau 10 tháng), ông mới khai báo và nộp cho cơ quan điều tra.

Sự việc này, trùng khớp với việc ông Vũ Đình Thị là ngay tối ngày 20/12/2003 cháu H. đã nói sự việc ông Đắc giao cấu buổi chiều cùng ngày, nhưng mãi tới 5 ngày sau ông mới làm đơn gửi cơ quan thẩm quyền.

Phải chăng có sự bàn bạc với nhau để có thời gian nhất định nhằm mục đích chuẩn bị và thống nhất trước để cùng tố cáo ông Đắc? Và sự thật đã được phơi bày vào phiên tòa lần thứ 6 diễn ra trong ngày 3/6/2005 khi bất chợt, ông Cháng Phúc khai rõ trước thanh thiên bạch nhật, trước HĐXX và những người tham dự là: “Ông Đắc có mời tôi xuống nhà ông Thị để hòa giải hai ông cãi nhau, chứ không biết tiền nong gì cả”.

Ngay sau khi ông Cháng Phúc khai như vậy, bà Ngân - Chủ tọa phiên tòa đã yêu cầu thư ký ghi vào biên bản lời khai này.

Về nhân chứng Đinh Thị Bảy: Mặc dù có họ hàng bên ngoại, nhưng từ lâu giữa bà Bảy và ông Đắc có mâu thuẫn rất gay gắt về tranh chấp đất đai, thậm chí phải đưa ra tổ dân phố cũng không hòa giải được, sau đó, ông Đắc đã tìm cách bán đất, chuyển chỗ ở để tránh tiếp xúc với bà Bảy.

Điều thật đáng ngờ là trong quá trình điều tra ban đầu, không ai thấy bóng dáng bà Bảy đâu cả, vậy mà 10 tháng sau, lại xuất hiện lời khai của bà Bảy là đã 2 lần nhìn thấy ông Đắc “quan hệ” với cháu H. (?!) Lại nữa, tuy là nhân chứng quan trọng bậc nhất, vậy mà qua 5 lần mở phiên tòa  bà Bảy đều vắng mặt.

Tới phiên thứ 6, ngày 3/6/2005 khi tòa triệu tập, bà Bảy bị dẫn giải đến tòa thì bà ta một mực đòi gặp điều tra viên Nguyễn Mạnh Trường bằng được (người trực tiếp lấy lời khai). Đến lúc điều tra viên Trường được tòa mời đến, vừa tới sân tòa án, thì bà Bảy nhảy vào tát thẳng vào mặt điều tra viên Trường và chửi: “Đồ lừa đảo” trước mặt rất đông cán bộ tòa án tỉnh Tuyên Quang cùng đông đảo những người dân chờ tham dự phiên tòa.

Còn lời khai của ông Vũ Đình Thị (bố dượng cháu H.). Trong hồ sơ mặc dù thể hiện ông Thị chỉ có hai lời khai tại cơ quan điều tra, nhưng lời khai của ông Thị không chỉ mâu thuẫn với lời khai của cháu H., mà còn khác hẳn so với chính lời khai của ông.

Đơn cử: Vào hồi 15 giờ 20 phút ngày 29/11/2003, tại cơ quan Công an huyện Na Hang (Tuyên Quang), ông Thị khai rằng: “…Đến 12 giờ hôm sau ngày 21/12/2003 tôi đã ngủ trưa thì thấy ông Đắc đẩy cửa vào nhà nói luôn với tôi là bác cho là tôi đi với con H. à? Nó là đạo con đạo cháu, bác giết tôi à?

Tôi bảo nếu có thiếu sót thì tự mình nhận lỗi, xong tôi bảo ông Đắc về đi để tôi còn ngủ trưa. Tôi nói vậy thì ông Đắc về. Đến tối khoảng 19 giờ thì bà Sự (vợ ông Đắc) lại sang nhà tôi thanh minh…

Sau khi bà Sự về thì tôi nịnh hỏi H. con gái tôi, cái H. mới nói với tôi là vào ngày 20/12 ông Đắc có rủ H. nịnh cho tiền và H. đã cho ông Đắc giao cấu ở trên rừng. Sau khi giao cấu xong thì ông Đắc cho H. 10.000 đồng… Sau đó tôi hỏi tiếp là đã đi với ông Đắc mấy lần rồi thì H. nói lần này là lần thứ 5…”.

Gần 1 năm sau, vào hồi 8 giờ ngày 21/10/2004, cũng tại cơ quan Công an huyện Na Hang, ông Thị lại khai trước điều tra viên của Công an tỉnh Tuyên Quang rằng: “Tối hôm đó (tức ngày 20/12/2003-PV), tôi hỏi cháu H. là “Mày đi với ai ở trên đồi mà bố mẹ gọi mày không thưa”.

Cháu H. nói: “Con lên trên kia”. Tôi nói: “Mày có đi với thằng Đắc không?” và vợ tôi nói nếu đi với thằng Đắc thì nói cho bố mày biết rồi bố mày cho tiền… Lúc đó H. khóc và nói, lúc chiều (20/12/2003-PV) con kéo củi trên đồi thì gặp ông Đắc gọi con đi lên trên đỉnh đồi cho con 10.000 đồng và ông Đắc ngủ với con… và tôi hỏi cháu H. là mày quan hệ với thằng Đắc mấy lần rồi. Cháu nói: “Chỉ có một lần”.

Qua hai lời khai trên, bạn đọc thấy rất rõ về sự tiền hậu bất nhất: Lần đầu ông Thị khai rất rõ đến 12 giờ hôm sau 21/12/2003, ông ta mới hỏi H .về chuyện xảy ra và số lần mà H. “quan hệ” với ông Đắc là 5 lần, nhưng đến lời khai lần thứ 2, ông ta lại khai là ngay tối hôm đó (tức 20/12/2003) thì hỏi chuyện cháu H. và lần này thì H. nói chỉ quan hệ một lần với ông Đắc. Vì sao lại có sự khác biệt lớn như vậy?

Hàng loạt vi phạm nghiêm trọng trong Bộ luật Tố tụng hình sự

Theo quy định tại Khoản 3 điều 155 BLHS thì việc trưng cầu giám định đối với cháu H. có bị hiếp dâm hay không và tổn hại sức khỏe đến đâu là điều bắt buộc nhưng tại sao cơ quan điều tra, Tòa án lại không yêu cầu tổ chức pháp y giám định đối với cháu H.?

Trong suốt quá trình điều tra, truy tố, xét xử Đinh Xuân Đắc bị truy tố tội danh có mức hình phạt cao nhất là tử hình nhưng không có người bào chữa.

Trong hồ sơ vụ án không có một tài liệu nào thể hiện bị cáo từ chối mời người bào chữa và cũng không có một tài liệu nào thể hiện cơ quan điều tra, Viện KSND tỉnh Tuyên Quang đã yêu cầu Đoàn luật sư hoặc UBMTTQ cử người bào chữa cho bị cáo là vi phạm nghiêm trọng khoản 2 điều 57 Bộ luật TTHS.

Hầu như toàn bộ các văn bản tố tụng, trong hồ sơ vụ án của các điều tra viên đều không được đóng dấu của cơ quan điều tra lên các tài liệu đã xác lập. Mặt khác trong các văn bản tố tụng này còn bị gạch, xóa, thay đổi các từ, chữ, con số nhưng không có chữ ký xác nhận của đương sự tham gia khai báo là vi phạm nghiêm trọng Điều 77, 95, 125, 135 Bộ luật TTHS.

Hơn nữa, trong quá trình điều tra cơ quan điều tra không đánh bút lục các tài liệu thu thập được, Viện kiểm sát cũng không đánh bút lục trong quá trình làm cáo trạng. Toàn bộ hồ sơ này do Tòa án đánh bút lục từ giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử là không đúng với quy định của pháp luật.

Trong quá trình xét xử TAND tỉnh Tuyên Quang đã có rất nhiều vi phạm nghiêm trọng, cụ thể là: Hoãn phiên tòa quá nhiều lần trong đó có phiên tòa đã xét hỏi, luận tội, bào chữa, song, không ai đề nghị hoãn nhưng HĐXX đột ngột cho hoãn (phiên tòa ngày 23/1/2006).

Đặc biệt, phiên tòa ngày 29/5/2006, HĐXX thay đổi chủ tọa, thay đổi thẩm phán và hội thẩm, nhưng Tòa án không ra quyết định đưa vụ án ra xét xử để tống đạt cho bị cáo biết là vi phạm nghiêm trọng điều 178 và điều 182 Bộ luật TTHS.

Lộ dần thủ phạm chính

Có một điều ai cũng rõ trong vụ án này, lời khai của cháu H. là tối quan trọng, bởi vì chỉ duy nhất cháu mới xác định được ai thực sự là người “hiếp dâm” cháu, Đinh Xuân Đắc hay ai đây?

Tuy nhiên, trong suốt quá trình điều tra, những lời khai của cháu thể hiện trong hồ sơ, có thể nói, vô cùng lung tung, lẫn lộn, mâu thuẫn với nhau và mâu thuẫn với mọi lời khai khác.

Điều này báo hiệu uẩn khúc nào đó mà mãi sau này, phóng viên báo Tiền phong mới phát hiện ra được. Trở lại lời khai của cháu H., ví dụ như lời khai về số lần giao cấu với ông Đắc, lúc cháu khai 1 lần, 2 lần, 3 lần khi thì 5 lần rồi 20 lần và có lúc nhiều quá không nhớ nổi! Mặc dù khai nhiều lần như vậy nhưng cháu H., chỉ kể lại được đến lần thứ 3 thì không khai được nữa.

Tương tự trong 3 bản khai đầu, cháu đều khai không có ai nhìn thấy hoặc bắt được khi đang “quan hệ” với ông Đắc. Lạ lùng thay, sau 10 tháng thì cháu mới khai là có hai lần bà Đinh Thị Bảy nhìn thấy. Tổng hợp lời khai của cháu H., chúng tôi thấy rất rõ 2 điều: Một là có những lúc cháu rất vô tư, trẻ thơ, song lại có lúc lời khai của cháu lại thể hiện như một “tay chơi lão luyện” trong việc “quan hệ tình dục”.

Có thể lấy ví dụ về sự vô tư trẻ thơ của cháu H. như sau: Trong một bản khai của cháu thể hiện là cháu có nhìn thấy ở bẹn trái ông Đắc có một vết sẹo to bằng cái đít chén.

Thực tế, đã có ai xui cháu khai cụm từ “ở bẹn chân” (vì chỉ có thể giao cấu với ông Đắc thì cháu mới phát hiện ra cái sẹo này). Thế nhưng tại phiên tòa ngày 23/1/2006 khi được tòa hỏi cháu hiểu thế nào là “bẹn chân” hay không? Cháu đã trả lời ngay rằng “Cháu không trả lời được vì cháu không biết”.

Lại nữa, tại phiên tòa sơ thẩm ngày 24/6/2005, tất cả những người tham dự và cả HĐXX đều bất ngờ khi tòa hỏi về nhân chứng Đinh Thị Bảy, cháu đã rất vô tư trả lời là: “Cô Bảy dụ dỗ bảo cháu là cứ khai cô Bảy nhìn thấy 2 lần. Cô Bảy nói với cháu lúc ở nhà cháu, lúc thì gặp ở chợ, chỉ nói nhỏ thôi…. Nếu cô Bảy không xui thì cháu cũng không khai như thế”.

Mấy tháng sau, tại phiên tòa ngày 20/10/2005, cháu H. vẫn khai trước tòa rằng: “Cô Bảy xui cháu khai có hai lần ông Đắc giao cấu với cháu cô Bảy nhìn thấy”. Tòa hỏi vì sao tại cơ quan điều tra, cháu khai Đắc hiếp dâm nhiều lần, có lời khai 20 lần thì cháu vẫn hồn nhiên trả lời: “Do cô Bảy xui cháu khai như thế!!!”.

Đến đây, mọi người đều có thể nhận định được rằng chưa đủ căn cứ để kết tội ông Đinh Xuân Đắc “hiếp dâm”. Tuy nhiên, Trung tâm y tế huyện Na Hang đã kết luận bộ phận sinh dục của cháu H. đã bị giao cấu nhiều lần mà trong hồ sơ của chúng tôi, ngoài tài liệu về việc ông Vũ Đình Thị tố cáo ông Đinh Xuân Đắc hiếp dâm cháu H. còn có đơn của ông Đắc tố cáo chính ông Thị mới là người hiếp dâm con riêng của vợ. Vậy thì trên thực tế, ai là người đã hiếp dâm cháu H.? Ông Đinh Xuân Đắc hay ông Vũ Đình Thị?

(còn nữa)