Ba cơ quan tố tụng phải bồi thường người bị tù oan 10 năm

Ba cơ quan tố tụng phải bồi thường người bị tù oan 10 năm
TPO - Theo luật sư Nguyễn Chiến, Phó Tổng thư ký Liên đoàn Luật sư Việt Nam, nếu người bị tù oan 10 năm Nguyễn Thanh Chấn chính thức vô tội, ba cơ quan tố tụng có trách nhiệm liên đới bồi thường.

> TOÀN CẢNH VỤ ÁN 10 NĂM TÙ OAN TỘI GIẾT NGƯỜI

> TOÀN CẢNH VỤ ÁN 10 NĂM TÙ OAN TỘI GIẾT NGƯỜI
Luật sư Nguyễn Chiến.

Hội đồng thẩm phán, Tòa án Nhân dân Tối cao đã hủy các bản án kết tội ông Thanh Chấn (Bắc Giang) để điều tra lại từ đầu, nhưng phải chờ đến khi ông Chấn được đình chỉ điều tra mới chính thức là người vô tội. Đó là quan điểm của luật sư Nguyễn Chiến khi trao đổi với PV Tiền Phong xung quanh vụ “án oan 10 năm” tội giết người.

Việc Hội đồng thẩm phán – Tòa án Nhân dân Tối cao ra kết luận hủy các bản án tuyên ông Chấn chung thân về hành vi giết người, để điều tra lại từ đầu, đã được coi là vô tội chưa, thưa luật sư?

Trong tình huống này, Tòa án Nhân dân Tối cao đã đồng nhất với quyết định kháng nghị tái thẩm trước đó của Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao khi thấy xuất hiện tình tiết mới làm thay đổi bản chất vụ án.

Như vậy, khi Lý Nguyễn Chung đầu thú – thừa nhận chính mình mới là thủ phạm gây ra cái chết oan nghiệt cho chị Hoan hơn 10 năm trước, cơ quan điều tra có thể căn cứ vào đó để đình chỉ điều tra đối với ông Nguyễn Thanh Chấn.

Việc đình chỉ điều tra này được hiểu, ông Chấn không có tội. Tuy nhiên, trước khi đình chỉ, cơ quan điều tra phải chứng minh được ông Chấn không có tội, từ đó, căn cứ các quy định của pháp luật, như Điều 107 và 164 Bộ luật Tố tụng Hình sự để minh oan cho ông Chấn.

Vậy vấn đề bồi thường sẽ được xem xét như nào, khi giả thiết ông Chấn vô tội?

Trong tình huống đó, căn cứ các quy định của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, mà ở đây, cụ thể là Điều 32 của văn bản này, Tòa án cấp phúc thẩm sẽ có trách nhiệm bồi thường, bởi đã bị Tòa án tái thẩm hủy án.

Bên cạnh đó, sau khi cấp có thẩm quyền xem xét những sai phạm về hoạt động tư pháp, rất có thể cả ba cơ quan tố tụng (Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án) đều phải có trách nhiệm liên đới trong việc bồi thường trách nhiệm (vật chất lẫn tinh thần) cho ông Chấn, trên cơ sở thương lượng giữa các bên.

Vậy giả thiết Lý Nguyễn Chung không phải thủ phạm thì sao?

Chúng tôi cũng đã nghĩ đến điều này. Bởi, xét về mặt lý thuyết, mọi chuyện đều có thể xảy ra. Do vậy, nhất định chúng ta phải chờ bản kết luận điều tra của cơ quan chức năng.

Họ phải xác định rõ ai là kẻ gây ra cái chết thương tâm cho chị Hoan. Khi đó, mới có thể khẳng định chắc chắn thủ phạm là ai được, trên cơ sở của nguyên tắc “Một người chỉ được coi là có tội khi bản án đã có hiệu lực pháp luật”.

Gần đây, dư luận đặt câu hỏi, việc Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao ra quyết định kháng nghị nhưng theo thủ tục tái thẩm, chứ không phải giám đốc thẩm nhằm làm giảm nhẹ trách nhiệm của các cơ quan tố tụng. Ông nghĩ sao về điều này?

Thật ra, các quy định về kháng nghị tái thẩm hay giám đốc thẩm đã được thể hiện rất rõ trong quy định của pháp luật hình sự. Có thể hiểu nôm na như này, kháng nghị tái thẩm là có sự xuất hiện tình tiết mới, làm thay đổi bản chất vụ án, còn kháng nghị giám đốc thẩm là những sai phạm nghiêm trọng về tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án.

Như vậy, trong vụ án này, như nội dung quyết định kháng nghị của Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao, vụ án vừa có những sai phạm nghiêm trọng về tố tụng, nhưng cũng lại vừa có tình tiết mới. Điều này dễ dẫn đến những hoài nghi trong dư luận, và việc họ đặt ra các câu hỏi đó hoàn toàn dễ hiểu.

Bên cạnh đó, quá trình xét xử cũng như thụ án, cả bị cáo và vợ đều có đơn kêu oan. Thậm chí, vợ ông Chấn đã đưa ra được những tài liệu quan trọng chứng minh Lý Nguyễn Chung là thủ phạm của vụ án. Do vậy, cũng cần xem xét Chung ra đầu thú có được coi là tình tiết mới hay không.

Quan điểm cá nhân tôi, trong vụ án này, dù có nhiều sự kiện đan xen (cả sai phạm về tố tụng, cả tình tiết mới), nhưng tình tiết đầu thú được xem là tình huống xuyên suốt – quan trọng nhất, có thể thay đổi toàn bộ cục diện vụ án, và như thế, khi kháng nghị tái thẩm là có cơ sở hơn cả.

Cảm ơn luật sư về cuộc trao đổi!

Điều 32. Trách nhiệm bồi thường của Toà án nhân dân trong hoạt động tố tụng hình sự

1. Toà án cấp sơ thẩm có trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các trường hợp sau đây:

a) Toà án cấp sơ thẩm tuyên bị cáo có tội nhưng Toà án cấp phúc thẩm huỷ bản án sơ thẩm, tuyên bị cáo không có tội và đình chỉ vụ án vì người đó không phạm tội hoặc huỷ bản án sơ thẩm để điều tra lại mà sau đó bị can được đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án vì không thực hiện hành vi phạm tội hoặc huỷ bản án sơ thẩm để xét xử lại mà sau đó bị cáo được tuyên là không có tội vì không thực hiện hành vi phạm tội;

b) Toà án cấp sơ thẩm tuyên bị cáo có tội, bản án sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật nhưng Toà án xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm huỷ bản án và đình chỉ vụ án vì người đó không thực hiện hành vi phạm tội;

c) Toà án cấp sơ thẩm tuyên bị cáo có tội, bản án đã có hiệu lực pháp luật nhưng Toà án xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm huỷ bản án để điều tra lại mà sau đó bị can được đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án vì không thực hiện hành vi phạm tội;

d) Toà án cấp sơ thẩm tuyên bị cáo có tội, bản án đã có hiệu lực pháp luật nhưng Toà án xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm huỷ bản án để xét xử lại mà sau đó bị cáo được tuyên là không có tội vì không thực hiện hành vi phạm tội.

2. Toà án cấp phúc thẩm có trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các trường hợp sau đây:

a) Toà án cấp phúc thẩm tuyên bị cáo có tội nhưng Toà án xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm huỷ bản án phúc thẩm và đình chỉ vụ án vì người đó không thực hiện hành vi phạm tội;

b) Toà án cấp phúc thẩm tuyên bị cáo có tội nhưng Toà án xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm huỷ bản án phúc thẩm để điều tra lại mà sau đó bị can được đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án vì không thực hiện hành vi phạm tội;

c) Toà án cấp phúc thẩm tuyên bị cáo có tội nhưng Toà án xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm huỷ bản án phúc thẩm để xét xử lại mà sau đó bị cáo được tuyên là không có tội vì không thực hiện hành vi phạm tội.

3. Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Toà án quân sự quân khu và tương đương có trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi Uỷ ban Thẩm phán Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Toà án quân sự quân khu và tương đương xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm giữ nguyên bản án của Toà án cấp dưới tuyên bị cáo có tội trong các trường hợp sau đây:

a) Toà hình sự Toà án nhân dân tối cao xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm huỷ quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm của Uỷ ban Thẩm phán Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Toà án quân sự quân khu và tương đương và đình chỉ vụ án vì người đó không thực hiện hành vi phạm tội;

b) Toà hình sự Toà án nhân dân tối cao xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm huỷ quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm của Uỷ ban Thẩm phán Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Toà án quân sự quân khu và tương đương để điều tra lại mà sau đó bị can được đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án vì người đó không thực hiện hành vi phạm tội;

c) Toà hình sự Toà án nhân dân tối cao xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm huỷ quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm của Uỷ ban Thẩm phán Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Toà án quân sự quân khu và tương đương để xét xử lại mà sau đó bị cáo được tuyên là không có tội vì không thực hiện hành vi phạm tội.

4. Toà án nhân dân tối cao có trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao, Toà hình sự Toà án nhân dân tối cao, Toà án quân sự trung ương (sau đây gọi chung là Toà có thẩm quyền) xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm giữ nguyên bản án của Toà án cấp dưới tuyên bị cáo có tội trong các trường hợp sau đây:

a) Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao huỷ quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm của Tòa có thẩm quyền thuộc Toà án nhân dân tối cao và đình chỉ vụ án vì người đó không thực hiện hành vi phạm tội;

b) Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao huỷ quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm của Tòa có thẩm quyền thuộc Toà án nhân dân tối cao để điều tra lại mà sau đó bị can được đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án vì người đó không thực hiện hành vi phạm tội;

c) Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao huỷ quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm của Tòa có thẩm quyền thuộc Toà án nhân dân tối cao để xét xử lại mà sau đó bị cáo được tuyên là không có tội vì không thực hiện hành vi phạm tội.

(Trích Điều 32 – Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước)

Theo Viết
MỚI - NÓNG