Một thời tranh đấu qua những lá thư giữa hai miền

Một thời tranh đấu qua những lá thư giữa hai miền
TP - Trên khắp cả nước, chắc chắn có rất nhiều bức thư của những chiến sĩ cách mạng – người thân gửi cho nhau, trong những năm đánh Mỹ.

Có thể là giữa vùng giải phóng và vùng địch chiếm, giữa hai miền Nam - Bắc. Đó là những tài liệu chứa đựng những giá trị lịch sử, tinh thần to lớn.

Giáo sư Dương Tiềm (phía sau) tháp tùng Hòa thượng Thích Đôn Hậu thăm Mông Cổ (1969).
Giáo sư Dương Tiềm (phía sau) tháp tùng Hòa thượng Thích Đôn Hậu thăm Mông Cổ (1969).

Đầu thập niên 1990, nhà giáo Tôn Thất Dương Tiềm, nguyên Trưởng Phòng Giáo dục thành phố Huế, trao lại cho nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân một số ảnh tư liệu và một lá thư.

Lá thư là của giáo sư Tôn Thất Dương Kỵ, người anh con ông bác ruột, gửi từ căn cứ Trung ương cục miền Nam cho Tôn Thất Dương Tiềm, người em con ông chú, đang ở miền Bắc. Thư viết tay, kín hai mặt tờ giấy pơ-luya gấp đôi, đề ngày 21-7-1969.

Khi ông Dương Kỵ ra miền Bắc (1965) thì ông Dương Tiềm đang ở Huế. Sau Tết Mậu Thân (1968), ông Dương Tiềm tham gia Liên minh Các lực lượng dân tộc, dân chủ và Hoà bình thành phố Huế rồi ra Bắc thì ông Dương Kỵ đã vượt Trường Sơn trở lại miền Nam. Giáo sư Dương Kỵ viết:

Chúng mình xa nhau như thế là đã mấy năm rồi Tiềm nhỉ? Rảnh rỗi là mình lại thương nhớ đến Tiềm, đến những ngày đêm hoạt động với nhau đến đêm mình bị địch rượt đuổi, nửa khuya nhảy vào nhà Tiềm...

Nhớ đến các bạn D.Tr (các anh ấy hồi này ra sao?); đến tờ Ngày mai. “Ngày mai trời sẽ tạnh” Tiềm đã viết như vậy, nay thì đã gần thành hiện thực rồi, chúng mình sẽ gặp lại nhau ở miền Nam.

Giáo sư Tôn Thất Dương Kỵ sinh năm 1914 tại làng Vân Dương, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên - Huế. Thời trai trẻ ông kiên trì tự học và trở thành một học giả uyên thâm cả Tây học lẫn Nho học.

Cách mạng tháng Tám 1945 thành công, giáo sư Tôn Thất Dương Kỵ là thư ký Hội Trí thức Cứu quốc Thừa Thiên - Huế (1945-1946). Từ năm 1947 đến năm 1955, ông dạy học tại Trường Khải Định (Trường Quốc Học Huế).

Ông đã truyền bá tư tưởng cách mạng cho nhiều lớp thanh niên học sinh. Năm 1949, giáo sư đã cùng một nhóm nhà giáo, văn nghệ sĩ tiến bộ sáng lập tạp chí Tiến Hóa - cơ quan tranh đấu văn hóa - chính trị của trí thức miền Trung.

Sau khi Tiến Hóa bị địch đóng cửa, năm 1954 giáo sư lại lập ra tờ Ngày Mai - Cơ quan tranh đấu của phong trào đòi hòa bình, hiệp thương tổng tuyển cử, thống nhất nước nhà ở miền Trung. Một trong những người cầm trịch tờ Ngày Mai hiện đang sống ở Huế là giáo sư - tử tù Côn Đảo Lê Quang Vịnh.

Ngày Mai bị chính quyền Ngô Đình Diệm đóng cửa, giáo sư Tôn Thất Dương Kỵ bị bắt giam. Năm 1955, ra tù, giáo sư Dương Kỵ vào Sài Gòn dạy học tại các trường Marie Curie, Đại học Văn khoa. Năm 1962, giáo sư lại bị địch bắt, sau khi chế độ Ngô Đình Diệm bị lật đổ ông mới được thả ra.

Từ khi bọn nó tống xuất (người viết nhấn mạnh) mình - bấy giờ bị đột ngột quá, mình không kịp thư từ gì cho Tiềm, cho các bạn ở Huế cả. Mình sống gần một năm ở miền Bắc thân yêu rồi đi Campuchia làm như độ nọ ở Huế với Tiềm, bị bắt, tù, trục xuất qua Lào ngồi tù. Ở Lào trục xuất về lại Campuchia, lại ngồi tù ở đấy. Cuối cùng về vùng giải phóng như Tiềm đã biết. Tóm tắt là thế đấy, từ khi chúng mình xa nhau.

Giáo sư Tôn Thất Dương Kỵ được Đại hội Mặt trận dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam cử vào Ủy ban Trung ương với bí danh là Dương Kỳ Nam. Trong thời gian này giáo sư tiếp tục sống hợp pháp và hoạt động ở Sài Gòn.

Ông cùng những người yêu nước khác lãnh đạo phong trào Dân tộc tự quyết Việt Nam với cương vị Ủy viên Ban chấp hành và Ủy ban Vận động hòa bình Việt Nam với cương vị Tổng thư ký. Không bao lâu, phong trào Dân tộc Tự quyết bị đàn áp, Giáo sư Tôn Thất Dương Kỵ cùng nhiều nhân sĩ đồng sự của ông bị bắt và bị tống xuất ra miền Bắc.

Cuộc tống xuất đó đã được nhà văn, nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân ghi lại trong Hồi ký Ba năm tranh đấu ở đô thị  (sắp xuất bản) được tóm lược lại sau đây:

Phong trào Dân tộc tự quyết bị chính quyền Sài Gòn ngăn cấm, trấn áp. Thủ tướng dân sự Phan Huy Quát đã cách chức 300 công chức tham gia phong trào Tranh đấu bảo vệ Hoà bình và Hạnh phúc Dân tộc, và bắt giữ gần 100 người, trong đó có bác sĩ Phạm Văn Huyến, nhà báo Phi Bằng (Cao Văn Chiếm), giáo sư Tôn Thất Dương Kỵ.

Đối với bác sĩ Phạm Văn Huyến, nhà báo Phi Bằng và giáo sư Tôn Thất Dương Kỵ, chính quyền Sài Gòn đã bày một trò “cân não” để dằn mặt trí thức sinh viên miền Nam lúc ấy. Ba ông là người miền Bắc và miền Trung nên chính phủ giao cho chính quyền Vùng I chiến thuật, do tướng Nguyễn Chánh Thi cầm đầu, giải quyết.

Giáo sư Tôn Thất Dương Kỵ là một trí thức yêu nước tiêu biểu của Huế trong hơn hai thập kỷ trước đó. Chính quyền Sài Gòn nghĩ rằng “Trừng trị, khuất phục được Tôn Thất Dương Kỵ thì bọn trí thức sinh viên học sinh Huế sẽ chùn bước đấu tranh”. Nhưng chúng đã nhầm.      

Nguyễn Chánh Thi có ý định buộc ba nhà lãnh đạo phong trào Hòa bình và Tự quyết vào dù, rồi cho máy bay chở họ ra miền Bắc, thả xuống. Chủ trương thả dù có mục đích khủng bố tinh thần ba nhà trí thức được Nguyễn Chánh Thi giải thích: “Phải làm như thế ba ông trí thức mới tởn và không dám đòi hoà bình, tự quyết nữa”.

Thế nhưng Thủ tướng Phan Huy Quát không đồng ý vì sợ dân chúng trong nước và thế giới lên án.  Ông Quát không tin biện pháp ấy có thể khuất phục được ba nhà trí thức mà ông ta biết rất rõ là họ “bất khuất”.

Tướng Thi lại nói: “Vậy thì cho họ ra miền Bắc mà bất khuất với Cộng sản”. Nhiều người làm việc gần tướng Thi cho biết: Ông ta bảo rằng ba nhà trí thức miền Nam đã quen cuộc sống sung sướng ở đô thị, ra miền Bắc đang bị chiến tranh phá hoại, cực khổ, thế nào họ cũng xin ở lại”.

Vào sáng ngày 19-3-1965, tướng Thi cho tổ chức một cuộc tụ tập dân chúng, trí thức sinh viên học sinh Huế bên bờ nam cầu Hiền Lương để xem chính quyền Vùng I Chiến thuật “đày” ba thành viên cao cấp của phong trào Hoà bình và Tự quyết ra miền Bắc.

Ý đồ của tướng Thi là muốn cho giới “tai mắt” của Huế tận mắt thấy ba ông trí thức sẽ cầu xin được xách bót trở lại miền Nam và hứa sẽ không dám đòi “hòa bình” “tự quyết” nữa.

Buổi lễ bắt đầu, tướng Thi đọc “tội trạng” gây trở ngại cho công cuộc chống Cộng của ba nhà trí thức và đó là lý do khiến chính quyền Vùng I “đày” họ ra miền Bắc. Tướng Thi vừa đọc xong, lính quân cảnh mở cửa sau chiếc xe thùng bịt kín đẩy ba nhà trí thức đến đầu phía Nam cầu Hiền Lương. Dân chúng chăm chú nhìn theo.

Người xuất hiện đầu tiên là nhà báo Phi Bằng, rồi đến bác sĩ Phạm Văn Huyến và giáo sư Tôn Thất Dương Kỵ. Cả ba ông đều rất tỉnh táo không lộ vẻ sợ hãi gì cả.  Ba người mang theo 3 cái xắc đựng vài cặp quần áo với đồ dùng cá nhân nhẹ nhàng.

Tướng Nguyễn Chánh Thi chờ đợi giây phút ba vị trí thức quay đầu và chắp tay lạy ông Thi để được ở lại “miền Nam tự do”. Không ngờ ba ông không những không xin ở lại mà khi qua đến nửa phần cầu thuộc miền Bắc thì ngoái lại giơ tay chào đồng bào và hẹn sẽ gặp lại sau ngày giải phóng miền Nam. Đồng bào và sinh viên học sinh có mặt hôm đó rất khâm phục tư cách của ba nhà trí thức. Họ muốn vỗ tay tán thưởng nhưng sợ chính quyền làm khó dễ nên chỉ nhìn nhau trao một nụ cười kín đáo mà thôi.

Hiên ngang đi bộ qua cầu Hiền Lương ra miền Bắc, từ miền Bắc giáo sư Dương Kỵ lại vượt Trường Sơn trở về miền Nam hoạt động. Sau tết Mậu thân - 1968, giáo sư được cử làm Tổng Thư ký Ủy ban Trung ương Liên minh Các lực lượng dân tộc, dân chủ và Hoà bình Việt Nam. Cuối lá thư gửi ông Dương Tiềm,  giáo sư Dương Kỵ viết:

Mình vừa mới tiếp được thư của thầy Đôn Hậu (Hoà thượng Thích Đôn Hậu, Ủy viên Hội đồng Cố vấn Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, lúc đó đang ở miền Bắc -NV), thì giờ gấp quá, tay mình lại đau viết chữ xấu như ri e bất tiện.

Nhờ Tiềm thưa lại với thầy mình xin trân trọng gửi lời cảm ơn thầy đã phúc đáp thư mình, và mình sẽ biên thư thăm thầy nay mai. Cho mình gửi lời thăm cụ Đoá (Phó Chủ tịch Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam -NV), anh Hảo (giáo sư Lê Văn Hảo) và tất cả các vị trong Liên minh nhé... -Tư Nhiên

Viết thư cho mình thì đề tên ấy, rồi gởi cho ông Nguyễn Văn Hiếu – 53 Samdich Panu, Phnompenh. Nhờ giao lại cho Tư Nhiên. Nếu viết theo địa chỉ ấy là thành công khai đó Tiềm nghe. Nhớ ký (tên-NV) Thiếu-Đào chứ đừng ký Tiềm, và không nói hết được lòng đâu. Ở Campuchia kiểm duyệt nó theo chỉ (thị-NV) ở Sài Gòn.

Thư viết ngày 21-7-1969 nhưng chưa chuyển ngay – có lẽ do chưa có đợt chuyển thư tín theo đường giao liên (?). Vì phía dưới có mấy dòng tái bút: Mình đã tranh thủ viết thư cho thầy Đôn Hậu rồi, Tiềm khỏi thưa như mình dặn.

Nhà giáo Tôn Thất Dương Tiềm đã qua đời nên chúng tôi không kiểm chứng được phải mất bao nhiêu ngày lá thư này mới đến tay người nhận. Nhưng nếu để ý tìm hiểu, dù lá thư để lại chỉ khoảng 600 chữ nhưng chứa đựng rất nhiều thông tin về phong trào đấu tranh ở đô thị nói riêng, phong trào đấu tranh cách mạng ở miền Nam nói chung.

Trong đó còn có cả cuộc đời, sự nghiệp và gia cảnh của một trí thức lớn khi dấn thân vào sự nghiệp đấu tranh cho hòa bình, dân chủ và độc lập dân tộc, thống nhất đất nước như giáo sư Tôn Thất Dương Kỵ. Đoạn nói về gia cảnh, giáo sư Dương Kỵ viết:

Thím Tiềm và các cháu (lúc đó đang ở Huế -NV) ra sao? Tiềm có tin tức gì không? Còn gia đình mình thì vợ chồng Huế bị tù, Trai bị bắt mất tích, đang tìm mà chưa có tin. Cháu Huyền rút vào bí mật. Hoạt động của các cháu ở trong nớ là vậy. Đánh Mỹ thì tự nhiên phải gian khổ thôi, và cũng tất thắng thôi.

Sau ngày đất nước thống nhất, giáo sư Tôn Thất Dương Kỵ được bầu làm Ủy viên thư ký Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Ông mất năm 1987.

Cùng chuyên mục

Tượng đài Nguyễn Tất Thành – Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Trường Quốc học Huế Ảnh: QH Huế

130 năm trường Quốc học Huế: Ngôi trường của tuấn kiệt, anh thư

TP - Trong nhiều lần trò chuyện với thạc sĩ Sử học Nguyễn Đình Dũng, người từng dạy môn lịch sử ở Đại học Huế và cũng từng công tác tại Bảo tàng Hồ Chí Minh TP Huế, thường nghe anh nói rằng: “Trường Quốc học Huế là ngôi trường vĩ đại, là chiếc nôi đào tạo lớp lớp hiền tài đóng góp rất lớn cho lịch sử đất nước. Họ đích thực là những tuấn kiệt, anh thư. Trong đó có vai trò đặc biệt quan trọng của người học sinh Nguyễn Sinh Côn, sau này là Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại”.

Rắn độc và rừng hoang đã 'bỏ bùa' họ như thế đó

Rắn độc và rừng hoang đã 'bỏ bùa' họ như thế đó

TPO - Suốt nhiều năm, thỉnh thoảng tôi vẫn được những vị khách phương xa, trong đó có cả khách Âu - Mỹ, nhờ dẫn đến những khu nhà hàng đặc sản thịt rắn như Lệ Mật để “thử món lạ”. Có những nhà báo châu Âu quyết tâm trải nghiệm đến cùng, giá cả chẳng thành vấn đề, cứ như thể đã đặt chân đến Hà Nội mà chưa nếm thịt rắn thì chuyến đi vẫn còn thiếu một điều gì đó. Vậy mà, khi tận mắt thấy quả tim rắn vẫn còn đập trong chiếc cốc thủy tinh, bên cạnh là thứ tiết đỏ au được khuấy bằng một cọng sả trắng nõn, không ít người bỗng chốc đổi ý. Họ lịch sự xin phép được dừng lại ở mức “chiêm ngưỡng”, nhường phần “thưởng thức” cho những người can đảm hơn.

Ông Nguyễn Hồng Quang tỉ mỉ, chăm chút từng sản phẩm mới

Khắc khoải về làng gốm cổ Hương Canh

TP - Từng có gần 400 hộ làm nghề, gốm Hương Canh (xã Bình Nguyên, tỉnh Phú Thọ) nay chỉ còn 4 hộ bền bỉ giữ lửa cho nghề gốm cổ. Được tạo nên từ nguồn đất trầm tích đặc biệt của địa phương, dòng gốm sành không men nổi tiếng bởi độ bền chắc và sắc màu trầm mộc mạc đang đối mặt với những khó khăn về đầu ra và nguy cơ thiếu người kế nghiệp.

Anh Lưu Quang Hà bên sản phẩm bê tông nghệ thuật của Công ty

'Chúa chổm' xứ Tuyên đúc nên cơ nghiệp

TP - Lưu Quang Hà vừa rời giảng đường đại học, bước chân khởi nghiệp liền bị quỵt tiền, phải vay nặng lãi để sống. Ở nhà, bố mắc ung thư phổi, gia đình khánh kiệt, khiến anh Hà nhiều đêm bật khóc. Nhưng rồi, anh đứng dậy, gây dựng công ty chuyên làm sản phẩm bê tông nghệ thuật – ngành nghề mà anh được học, doanh thu tiền tỷ, tạo việc làm cho gần 20 lao động. Anh còn là Bí thư Chi đoàn ở tổ dân phố.

Công an cơ sở tuyên truyền, vận động người dân xóa bỏ hủ tục nghi kỵ “cầm đồ thuốc độc” Ảnh: NN

'Bóng ma đồ độc' ám ảnh vùng cao Quảng Ngãi

TP - Ở một số bản làng miền núi Quảng Ngãi, hủ tục nghi kỵ “cầm đồ thuốc độc” vẫn âm ỉ tồn tại, len vào những mâu thuẫn đời thường, những cơn bệnh chưa được lý giải bằng khoa học. Từ một lời phán của thầy cúng, hàng xóm có thể thành kẻ thù, người vô tội bị cô lập, đánh đập, thậm chí mất mạng.

Cán bộ Trạm Y tế xã Buôn Đôn đi bộ đến từng hộ dân tại buôn Đrăng Phốk để tiêm vắc xin cho trẻ

'Cõng' vắc xin tìm trẻ giữa đại ngàn

TP - Không để người dân vất vả đưa con đến trạm y tế, vào ngày 16 hằng tháng, cán bộ y tế xã vùng xa tỉnh Đắk Lắk vượt hơn 20km đường rừng đều đặn mang vắc xin vào tận buôn. Chuyến đi của họ đã mang thêm một lớp bảo vệ đến với những đứa trẻ nơi vùng lõi rừng, từng ngày rút ngắn giữa dịch vụ y tế và người dân.

Giếng cổ được người dân tự hào giới thiệu với khách đến thăm đảo

Bí ẩn giếng cổ ở xã đảo Đà Nẵng

TP - Giữa vùng biển đảo quanh năm nắng gió, nơi từng giọt nước ngọt quý hơn vàng, hai giếng cổ dưới chân núi Bàn Than ở Tam Hải vẫn trong veo, mát lành qua hàng trăm năm.

Cựu chiến binh Nguyễn Duy Kháng và cô giáo HươngẢnh: Lê Văn Chương

Những người lính ở lại núi Dàng-Bài cuối: Trái tim cô giáo trẻ dành trọn tiếng "tít te"

TP - Tháng 2/1970, bên dòng sông Vệ (Hành Thịnh, Quảng Ngãi), những chiếc HU-1A còn gọi là tàu rọ liên tục quần đảo, gầm rít trên bầu trời. Giữa khói lửa chiến tranh, trái tim một cô giáo trẻ lại bị cuốn vào âm thanh “tít te” không ngừng của một cậu lính thông tin quê Thái Bình. “Cái này bí mật, không thể giải thích” – chàng lính Nguyễn Duy Kháng mỉm cười nói với cô giáo Nguyễn Thị Thanh Hương về công việc của mình.

Cựu chiến binh Lại Vũ Yên và bà Nguyễn Thị Bè, mối tình và đám cưới trong chiến tranh, giờ đây đã hơn 50 năm Ảnh: Lê Văn Chương

Những người lính ở lại núi Dàng-Bài 2: Mối tình người lính quân y và nữ du kích

TP - Trước năm 1975, địch xem xã Hành Thịnh là một trong những cái gai rất khó nhổ. Bởi đây là một xã đồng bằng của Quảng Ngãi nhưng lại có rất nhiều ngọn núi: núi Dàng, núi Đuôi Chuột, núi Rố, núi Gò Đồn, núi và rừng Ông Đương, gò Rú. Địa thế hiểm trở vốn là lợi thế của quân giải phóng và là vùng đất chết đối với quân đội chính quyền Sài Gòn. Y sĩ Lại Vũ Yên đã trải qua những ngày gian nan tại đây, sau đó kết hôn với cô du kích…

 Ông Trương Minh Hải, Tổ trưởng Tổ cộng đồng bảo vệ nguồn lợi thủy sản phường Hồng Ngự chăm sóc đàn cá tự nhiên Ảnh: Hoà Hội

'Ngôi nhà' của đàn cá trên sông Tiền

TP - Xuất phát từ ý tưởng giữ cá lại với dòng sông, người dân vùng đầu nguồn Hồng Ngự (Đồng Tháp) đã biến đoạn bờ kè bình dị thành “bến đỗ an toàn” của đàn cá hàng nghìn con. Cá được cho ăn, bảo vệ và sinh trưởng tự nhiên. Mô hình độc đáo này không chỉ góp phần bảo vệ nguồn lợi thủy sản mà còn đánh thức tình yêu thiên nhiên trong cộng đồng.

Chiến dịch 500 ngày đêm đang được tổ chức tại nghĩa trang liệt sĩ Hành Thịnh, xã Đình Cương. Trong số các liệt sĩ nằm lại, có nhiều người là đồng đội của vợ chồng ông Tân Ảnh: Lê Văn Chương

Những người lính ở lại núi Dàng: Mối tình lính DKB và cô y tá

TP - Cách đây hơn nửa thế kỷ, khi đất nước hòa bình, hầu hết những người lính gác lại súng gươm để trở về với quê nhà, mang theo ký ức của một thời hoa lửa. Thế nhưng, tại xã Hành Thịnh (nay là xã Đình Cương) nằm dưới chân núi Dàng- vùng căn cứ cách mạng của Quảng Ngãi, vẫn có những người lính ở lại. Đầu tháng 9 này, họ đang lặng lẽ dõi theo từng nhát cuốc của Đội tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ đang thực hiện Chiến dịch 500 ngày đêm.

Phiên chợ Sâm Ngọc Linh và dược liệu được tổ chức đều đặn mỗi tháng ở phố du lịch sầm uất của Đà Nẵng Ảnh: Giang Thanh

Quà quê kể chuyện Đà Nẵng

TP - Một tấm chiếu cói kể chuyện làng nghề, chai tinh dầu kể chuyện vùng dược liệu hay món đặc sản kể chuyện miền quê. Khi những món “quà quê” được đặt trong không gian trải nghiệm du lịch, câu chuyện về Đà Nẵng có cơ hội chạm vào du khách và theo họ đi xa hơn.