Anh Văn, nghiệp Võ

Đại tướng và phu nhân chụp ảnh lưu niệm ngày ông tròn 95 tuổi tại nhà riêng. Ảnh: Phạm Yên
Đại tướng và phu nhân chụp ảnh lưu niệm ngày ông tròn 95 tuổi tại nhà riêng. Ảnh: Phạm Yên
TP - Thực tiễn là tiêu chuẩn chân lí. Lịch sử chiến tranh cách mạng Việt Nam đã chứng tỏ cái nhìn thấu thị chính trị và quân sự của Bác. Chưa bao giờ thấy ông kể gì về thanh gươm Đại tướng. Tất nhiên thanh gươm ấy chỉ có ý nghĩa tượng trưng cho quyền lực. Nhưng hình như, chưa bao giờ ông phải dùng quyền lực trong chỉ huy - trừ một lần.
Đại tướng và phu nhân chụp ảnh lưu niệm ngày ông tròn 95 tuổi tại nhà riêng. Ảnh: Phạm Yên
Đại tướng và phu nhân chụp ảnh lưu niệm ngày ông tròn 95 tuổi tại nhà riêng. Ảnh: Phạm Yên.


4. Vì sao Đại tướng lại nói... ĐẠT ĐƯỢC quyết định khó khăn nhất trong ĐỜI CHỈ HUY của mình? Tôi hiểu là, trong đời chỉ huy quân sự của ông từ đó về sau còn có một lần nữa, ông không đạt được một quyết định quan trọng tầm cỡ như thế.

Bất cứ ai tìm hiểu lịch sử cuộc kháng chiến lần thứ hai của dân tộc đều biết, đã có lần ông cũng có ý kiến, mà ý kiến ấy, sau này được thực tiễn chứng minh là đúng, nhưng ông không đạt được tâm nguyện, chí nguyện của mình.

Về chuyện này, trong cuốn Tổng hành dinh trong mùa xuân toàn thắng (Nxb Chính trị Quốc gia, ấn hành năm 2000) chương X, chương cuối cùng mang tựa đề Đôi dòng suy ngẫm, khi đề cập đến nguyên nhân sai lầm của ta, ông có viết: “Trong những năm chống Pháp, chống Mỹ, đã có lúc ta không nắm vững đường lối quân sự của Đảng và tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh, không đi sát thực tiễn và không làm theo quy luật, chủ quan, duy ý chí, nên đã hạn chế không ít thắng lợi và chịu nhiều tổn thất”.

Giá như trong sự kiện ấy, mọi người đều phải trả lời thẳng vào câu hỏi của Bác có chắc thắng không như ông đã hỏi các cộng sự ở Điện Biên Phủ thì kết quả đã khác rồi. Vị thế của ông lúc ấy không giống vị thế ông ở Điện Biên Phủ. Ông chỉ là một thành viên trong ban lãnh đạo, nghĩa là lãnh đạo tập thể theo nguyên tắc đa số.

Có một câu hỏi có ý nghĩa lịch sử đã được đặt ra từ lâu nhưng không ai trả lời được. Chính người trong cuộc cũng không trả lời được. Ấy là, vì sao Bác Hồ chọn thầy giáo dạy lịch sử Võ Nguyên Giáp, người chưa qua một trường lớp quân sự nào làm người chỉ huy quân sự? Câu hỏi này nhiều người, nhiều lần đã đặt ra. Hôm chúng tôi đến chúc mừng ông, cũng có người hỏi như thế. Ông cười bảo: “Chính tôi cũng không biết. Chỉ có Bác biết thì Bác đã đi xa rồi”.

Chỉ có thể giải thích chung chung rằng, ấy là nhờ Bác có đôi mắt xanh nên mới thấy được năng lực tiềm ẩn, năng lực thiên phú trong con người Đại tướng. Thực tiễn lịch sử chứng minh rằng Bác đã chọn đúng người, giao đúng việc. Cả thế giới này biết một nhà báo nước ngoài đã hỏi Bác Hồ rằng, các sĩ quan của ngài chưa hề được đào tạo ở một trường quân sự nào, thì căn cứ vào đâu mà ngài phong quân hàm cho họ. Bác đã trả lời giản dị, không thể giản dị hơn; thuyết phục không thể thuyết phục hơn, rằng cứ đánh thắng thiếu tướng thì phong thiếu tướng, thắng đại tướng thì phong đại tướng.

Năm 1948, Bác đã thay mặt Chính phủ phong quân hàm Đại tướng và trao thanh gươm Đại tướng cho thầy giáo dạy lịch sử lúc đó mới 37 tuổi. Trong cuộc kháng chiến lần thứ nhất, bảy Đại tướng Pháp đã thua Đại tướng Võ Nguyên Giáp là: Leclerc, Valluy, Blaigot, Cargentier, Tassigny, Salan, Nava. Cuộc kháng chiến lần thứ hai thì ba đại tướng này không thắng được ông, phải rút quân về nước (1973): Westmoreland, Abrams và Weyand.

Thực tiễn là tiêu chuẩn chân lí. Lịch sử chiến tranh cách mạng Việt Nam đã chứng tỏ cái nhìn thấu thị chính trị và quân sự của Bác. Chưa bao giờ thấy ông kể gì về thanh gươm Đại tướng. Tất nhiên thanh gươm ấy chỉ có ý nghĩa tượng trưng cho quyền lực. Nhưng hình như, chưa bao giờ ông phải dùng quyền lực trong chỉ huy - trừ một lần.

Sau khi ta điểm trúng huyệt địch, mở màn bằng chiến thắng Ban Mê Thuột, rồi cả Tây Nguyên được giải phóng. Địch đánh võ mồm, quyết tử thủ Huế. Nhưng rồi ta cũng giải phóng nhanh gọn mặt trận Trị - Thiên - Huế. Địch lại một lần nữa đánh võ mồm sẽ tử thủ Đà Nẵng. 6h ngày 27-3-1975, với tầm nhìn chiến lược và toàn cục, Đại tướng triệu tập họp.

Được hỏi ý kiến, có hai tình huống một là địch rút chạy, hai là co cụm “tử thủ”, nếu tình huống thứ nhất xảy ra thì chúng có thể rút nhanh nhất trong mấy ngày. Một ý kiến ba ngày, một ý kiến bốn đến năm ngày. Đồng chí Lê Trọng Tấn, Phó tổng tham mưu trưởng, vừa được chỉ định làm tư lệnh mặt trận Quảng - Đà thì nói năm ngày.

Đại tướng phân tích, lập luận rồi yêu cầu lên phương án đánh địch theo tình huống ba ngày. Đồng chí Lê Trọng Tấn vẫn giữ ý kiến của mình, vì cho rằng không thể chuẩn bị kịp. Đến lúc ấy ông buộc phải dùng quyền lực. “Giọng có phần gay gắt: - Tư lệnh mặt trận là anh, nên tôi để anh ra lệnh. Nếu là người khác, thì tôi ra lệnh: Đánh Đà Nẵng theo phương án chuẩn bị ba ngày”.

Tất nhiên sự việc diễn ra đúng như ý kiến chỉ đạo của ông. Sau này đồng chí Lê Trọng Tấn - con người trung thực, thẳng thắn, cương trực, một trong những tư lệnh xuất sắc nhất của quân đội như đánh giá của ông đã gặp ông, thừa nhận khuyết điểm của mình.

5. Năm 1971, Đại tướng sang Liên Xô, để khẳng định với bạn quyết tâm của ta đánh Mỹ đến thắng lợi hoàn toàn và đề nghị có sự giúp đỡ đặc biệt. Trong cuộc họp với Bộ Chính trị bạn, đồng chí Côxưghin, thủ tướng có hỏi ông xem Việt Nam có bao nhiêu sư đoàn bộ binh, xe tăng trọng pháo, máy bay tên lửa... Mỹ có bao nhiêu? Ông trả lời đại ý rằng, nếu nói về tương quan lực lượng và đánh theo cách đánh của Liên Xô với Phát xít Đức thì chúng tôi không chịu đựng nổi hai giờ đồng hồ. Chúng tôi đánh theo cách đánh khác, cách đánh Việt Nam và chúng tôi sẽ thắng.

"Ở Điện Biên Phủ, khi có một cán bộ cao cấp hỏi ông xem có cách gì để khắc phục khó khăn trong việc kéo pháo vào không thì ông nghĩ một tí rồi trả lời: “Cách tốt nhất để khắc phục khó khăn là... khắc phục khó khăn."

Ông kể trong cuốn sách của mình rằng, sau này có lần trở lại Liên Xô, ông cảm ơn Liên Xô đã nhiệt tình giúp đỡ Việt Nam. Người đã nghi ngờ khả năng thắng Mỹ của ta, nhưng vẫn giúp ta tận tình - đồng chí Côxưghin gặp ông đã nhiệt liệt chúc mừng ta thắng lớn như thế.

Khi đọc những dòng suy ngẫm có tính chất tổng kết của Đại tướng, sau khi phê phán một số nhận thức sai lầm, “...chỉ chú trọng đẩy mạnh chính trị, chiến tranh du kích, chỉ chăm lo xây dựng lực lượng chính trị, lực lượng vũ trang địa phương và quân du kích, coi nhẹ xây dựng bộ đội chủ lực”. Ông chỉ ra rằng: “Trong khi đẩy mạnh đấu tranh chính trị, phát triển chiến tranh du kích, Đảng ta luôn coi trọng xây dựng bộ đội chủ lực thành những binh đoàn mạnh, từ tiểu đoàn, trung đoàn, sư đoàn đến quân đoàn, trở thành những quả đấm thép, đủ sức giáng cho địch những đòn tiêu diệt lớn, quyết định chiến trường”.

Thực tiễn cả hai cuộc kháng chiến, nhất là cuộc kháng chiến lần thứ hai là minh chứng cho đường lối quân sự đúng đắn ấy của Đảng mà ông vừa có chủ kiến vừa là người thực hiện.

Theo lời kể của Đại tướng trong sách thì, để tiện việc lãnh đạo và phối hợp chỉ đạo, Bộ Chính trị trực tiếp đến Tổng hành dinh theo dõi bản đồ chiến sự, nhiều lần các đồng chí nghe báo cáo tại chỗ, cho ý kiến chỉ đạo tại chỗ. Có trường hợp Bộ Chính trị còn họp mở rộng ngay tại Tổng hành dinh.

Còn Đại tướng thì ngủ luôn tại chỗ, dù nhà ông rất gần cơ quan. Cũng nhờ sự phối hợp chặt chẽ, ăn ý như thế nên từ chủ trương của Bộ Chính trị, Đại tướng tự tay viết ngay lập tức thành Điện mật. Mệnh lệnh: 1/ Thần tốc, thần tốc hơn nữa; táo bạo, táo bạo hơn nữa. Tranh thủ từng giờ từng phút, xốc tới mặt trận giải phóng miền Nam. Quyết chiến và toàn thắng.

2/ Truyền đạt tức khắc đến đảng viên, chiến sĩ.

Văn, 7/4/75

Bức điện này là đỉnh điểm ý chí giải phóng hoàn toàn miền Nam của Đảng. Là tuyệt vời của khoa học và nghệ thuật chỉ huy, tổ chức và rèn luyện kỷ luật của quân đội ta được tôi luyện qua hai cuộc kháng chiến thần thánh mà Đại tướng là người được giao nhiệm vụ và đã thực hiện tài tình.

Không phải ngẫu nhiên mà bức điện này được in trong cuốn sách như một tư liệu lịch sử quý báu của cuộc cách mạng dân tộc dân chủ toàn thắng.

6. Rồi một cái tết dân tộc cách đây gần chục năm, người ta thi nhau xin chữ nhẫn (Hán tự) về thờ, lại được giảng giải rằng chữ nhẫn cùng với sự lên ngôi của chữ nhẫn, còn có bốn câu thơ sau: “Có khi nhẫn để yêu thương/ Có khi nhẫn để liệu đường lo toan/ Có khi nhẫn để vẹn toàn/ Có khi nhẫn để chớ tàn hại nhau”. Bài thơ được truyền tụng là của Đại tướng. Có lẽ trong suy nghĩ của mọi người nội dung bài thơ có phần giống với tính cách ông, nhân cách ông chăng? Nhiều người thì nói, đấy là một người kính trọng và ngưỡng mộ Đại tướng tặng ông.

Tôi vẫn nhớ như in buổi chiều hôm ấy (21-12-2004). Không biết thời tiết những ngày này 60 năm trước thế nào? Cứ nhìn quần áo các chiến sĩ đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân tuyên thề dưới cờ trong khu rừng Trần Hưng Đạo thì hẳn phải rét lắm. Nhưng mươi ngày nay, trời Hà Nội đẹp lạ lùng. Chúng tôi quây quần bên Đại tướng.

Tôi ngồi gần ông, nghe những điều ông nói, từng lời, từng câu, từng ý, vẫn là sản phẩm của một đầu óc thông tuệ, sắc sảo, đúng đắn. Tôi chợt nhớ, Ông đã ở tuổi 93 rồi. Thế hệ học trò, cộng sự của Bác có còn ai nữa đâu, ngoài ông? Ông phải được bảo vệ như tài sản vô giá của quốc gia và của cả các dân tộc nhược tiểu đứng lên làm chiến tranh giải phóng dân tộc.

Trong cuộc gặp này, Giáo sư Vũ Tuyên Hoàng mời ông (cùng với giấy mời) đến dự đại hội Liên hiệp hội Khoa học kỹ thuật tại Nhà hát lớn sắp tới. Ông không hứa sẽ đi để lấy lòng khách như người khác, rồi có đi được hay không thì có vô vàn lý do mà không ai dám trách cứ. Ông thì trả lời, “nói cho khoa học thì có thể mà cũng không thể, chưa khẳng định được”.

Còn ở Điện Biên Phủ, khi có một cán bộ cao cấp hỏi ông xem có cách gì để khắc phục khó khăn trong việc kéo pháo vào không thì ông nghĩ một tí rồi trả lời: “Cách tốt nhất để khắc phục khó khăn là... khắc phục khó khăn”. Không phải là một bộ óc trác việt thì không thể có một triết luận như thế.

Ai cũng muốn được ngồi bên ông, nhưng nhiều người cũng có ý thức bảo vệ sức khỏe ông, để mãi được nhìn ông trên đất nước này, thầm ước nguyện được chúc sức khỏe ông 100 tuổi hay hơn nữa thì phúc đức quá. Nhưng phải đứng lên thôi.

Còn một tiết mục khác mà ai cũng chờ đợi, ấy là được chụp ảnh cùng ông. Đừng coi đây là sự háo danh. Đơn giản đó là niềm hạnh phúc. Tấm ảnh này không phải là cái để đi dọa thiên hạ, để cầu thân, để làm bằng chứng cho sự quan trọng của mình. Chả thế ai cũng muốn được đứng gần ông, kể cả các vị chức tước, tuổi tác. Sau một lượt hàng chục máy ảnh bấm lia lịa, nhà nhiếp ảnh Văn Thọ đề nghị thay đổi đội hình cho một kiểu khác. Thấy một người vẫn đứng cạnh mình, ông bảo, “Anh vừa đứng cạnh tôi rồi, mời anh Hà Học Trạc đứng đây với tôi”.

Một câu nói vừa thẳng thắn, vừa thân tình, vừa tâm lý, vừa đời đến vậy, ở vị Đại tướng huyền thoại ngoài mặt trận đã đành, giữa đời thường thế này là điều tôi kinh ngạc vừa huyền thoại vừa không huyền thoại. Đúng là ứng xử của bậc vĩ nhân.

2004 - 2010