9 năm tù cho người không có hành vi phạm tội?

TP - Về vụ án “Bar 189V Bùi Thị Xuân, Hà Nội”, nhiều người, trong đó có giới luật sư và báo chí, cho rằng các cơ quan tố tụng đã khiên cưỡng, khi nhận định 6 bị cáo là phụ trách, nhân viên quán bar phạm tội “tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Bị cáo Ngà đang nuôi 2 con nhỏ, nên không bị áp dụng biện pháp tạm giam

Rạng sáng 1/6/2005, công an khám xét khẩn cấp Bar 189V Bùi Thị Xuân (Hai Bà Trưng, Hà Nội).

Với tội danh “tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, Công an quận Hai Bà Trưng đã khởi tố Nguyễn Việt Đức - Giám đốc Điều hành, Nguyễn Thanh Ngà - Trưởng phòng nhân sự, Trương Minh Đức - Trưởng phòng kinh doanh, cùng 3 người nữa.

Sau đó, Viện KSND quận Hai Bà Trưng đã truy tố cả 6 bị cáo này ra tòa.Trong các ngày 16,17, 20 và 23/3/2006, TAND quận Hai Bà Trưng đã đưa vụ án ra xét xử, tuyên Nguyễn Việt Đức 11 năm tù; Nguyễn Thanh Ngà và Trương Minh Đức, mỗi người 9 năm tù…

Kết luận của tòa sơ thẩm: Vẫn không rõ ràng!

Đã có nhiều bài báo, trong đó có Tiền Phong, phân tích các tình tiết, trích dẫn các văn bản pháp luật, để khẳng định việc quy kết 6 bị cáo phạm tội “tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” là khiên cưỡng, áp đặt.

Tại phiên tòa sơ thẩm, HĐXX do thẩm phán Đặng Thị Sâm chủ tọa nhận định :“Có đủ cơ sở để kết luận bị cáo Nguyễn Việt Đức và 5 đồng phạm đã sử dụng phương tiện là dàn ánh sáng đa màu sắc, âm thanh với tần suất cực lớn để thu hút nhiều khách hàng đến địa điểm do mình quản lý để đưa trái phép chất ma túy vào cơ thể với thời gian kéo dài đối với nhiều người, có người nhiều lần, là hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”;

“Trong vụ án này, ý thức chủ quan của các bị cáo là cố ý thể hiện ở việc quá giờ quy định mà vẫn mở nhạc mạnh để khách hàng đến quán, khách có biểu hiện sử dụng ma túy tổng hợp không có biện pháp ngăn chặn, nhắc nhở, mà còn sẵn sàng phục vụ âm nhạc theo thị hiếu khách hàng”.

Trong nhận định này, vẫn còn nhiều điều chưa rõ ràng. Đó là việc khách đến quán  có “biểu hiện” sử dụng ma túy, nhưng hành vi cụ thể đưa ma túy vào cơ thể, khách thực hiện ngay tại quán, hay thực hiện ở chỗ khác rồi sau đó mới đến quán để nghe nhạc?

Các nhân viên của quán nhìn thấy “biểu hiện” khách đã sử dụng ma túy, hay tận mắt chứng kiến khách đang đưa ma túy vào cơ thể? Việc sử dụng nhạc công suất lớn là để “chiều theo thị hiếu” của riêng khách sử dụng ma túy, hay là thị hiếu của khách đến với quán nói chung?

Đây là những vấn đề cốt lõi của hành vi “tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, song lại chưa được tòa án cấp sơ thẩm làm rõ.

Không thể phủ nhận Bar 189V Bùi Thị Xuân đã có những sai phạm, như mở quá giờ, bán rượu ngoại dán tem giả, việc phòng chống tệ nạn chưa làm tốt (44/198 người có mặt trong quán dương tính ma túy). Thế nhưng, đây là sai phạm hành chính, hay vi phạm hình sự, cần phải căn cứ vào những quy định pháp luật.

Việc sử dụng ánh sáng màu và âm thanh công suất lớn ở vũ trường, quán bar, không bị pháp luật cấm; các cơ quan tố tụng đi sâu vào chi tiết này là không cần thiết.

Vấn đề đặt ra là các quán bar, vũ trường cần tuân thủ những quy định gì để phòng chống đối tượng tệ nạn xã hội lợi dụng hoạt động? Việc vi phạm ở mức độ nào thì bị xử phạt hành chính, mức độ nào phải xử lý hình sự?

Đây là vấn đề cần được làm rõ tại phiên tòa phúc thẩm, để không chỉ định tội, áp dụng hình phạt thoả đáng cho các bị cáo, mà còn là bài học rút ra cho việc quản lý các quán bar, vũ trường nói chung.

Nguyễn Thanh Ngà: Tôi không có hành vi phạm tội

“Trong vụ án này, chứng cứ để kết tội Nguyễn Việt Đức chủ mưu, cầm đầu “tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” là rất mơ hồ, khiên cưỡng, vì vậy, kết tội tôi là đồng phạm với Đức cũng là khiên cưỡng, thiếu căn cứ”;

“Điều quan trọng nhất, trong các bị cáo, chỉ duy nhất tôi có được văn bản của cán bộ công an, cho thấy tôi đang hợp tác tích cực với cơ quan công an để phòng ngừa, đấu tranh với những biểu  hiện buôn bán, sử dụng ma túy. Thế nhưng, cả cơ quan điều tra, viện kiểm sát và tòa án cấp sơ thẩm đã bỏ qua chứng cứ ngoại phạm của tôi, từ đó kết tội oan cho tôi. Tôi thực sự  không có hành vi phạm tội, nhưng lại đang phải đối mặt với bản án 9 năm tù giam!”.

Trích đơn của Nguyễn Thanh Ngà

Cả 6 bị cáo nhân viên quán bar đều kêu oan, đáng chú ý là lời kêu oan của bị cáo Nguyễn Thanh Ngà. Sau phiên sơ thẩm, Ngà có đơn gửi báo Tiền Phong, trình bày rõ trước những biểu hiện hoạt động ma túy của một số đối tượng tại quán bar, Ngà đã chủ động gặp gỡ một cán bộ công an của Cục Điều tra tội phạm về ma túy (C17) Bộ Công an để báo cáo.

Ngay buổi sáng bị tạm giữ, Ngà đã gọi điện, và cán bộ này đã có mặt tại cơ quan điều tra, xác nhận Ngà đang hợp tác với mình. Ngà cho rằng, Ngà có chứng cứ ngoại phạm, song chứng cứ này chưa được cấp tòa sơ thẩm xem xét…

PV báo Tiền Phong đã trao đổi với luật sư Nguyễn Thái Hòa, người bào chữa cho bị cáo Ngà tại phiên tòa sơ thẩm. Luật sư Hòa nói rõ quan điểm ông đã trình bày tại tòa sơ thẩm: Không có cơ sở vững chắc để cho rằng bị cáo Ngà đồng phạm với bị cáo Đức, với hành vi “tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Luật sư Hòa khẳng định bị cáo Ngà có chứng cứ ngoại phạm. Đó là văn bản viết tay của Trung tá Trần Minh Tuấn - Cán bộ Cục C17 Bộ Công an, có chữ ký của điều tra viên Trần Thanh Hương, đóng dấu Công an TP Hà Nội.

Văn bản này được đưa vào hồ sơ vụ án, với số lục 245A. Nội dung của nó cho biết Trung tá Tuấn đã gặp Ngà 4 lần, để nghe Ngà báo cáo những thông tin về một số đối tượng có biểu hiện buôn bán ma túy (thường xuyên vào quán, không ngồi ổn định mà đi từ bàn này sang bàn khác…).

Trung tá Tuấn đề nghị Ngà tiếp tục hợp tác; những thông tin liên quan đến Ngà hoặc do Ngà cung cấp, Trung tá Tuấn đều báo cáo với lãnh đạo đơn vị.

Văn bản của Trung tá Tuấn là chứng cứ rất quan trọng, có lợi cho lời kêu oan của bị cáo Ngà. Song cả kết luận điều tra, cáo trạng, bản án sơ thẩm, chưa hề có một dòng, một chữ nào nhắc đến chứng cứ này! Những người theo dõi vụ án hy vọng, cùng với nhiều điều bất cập của vụ án, chứng cứ này sẽ được xem xét, cân nhắc kỹ lưỡng tại phiên tòa phúc thẩm.

Video đang được xem nhiều

Cùng chuyên mục

Xem thêm Pháp luật

Mới - Nóng