Infanrix Hexa là vắc-xin 6 trong 1 phối hợp để tiêm phòng các loại bệnh: Bạch hầu, Ho gà vô bào, Uốn ván, Viêm gan B, Bại liệt bất hoại và các bệnh gây ra do vi khuẩn Haemophilus influenzae type B (HiB), nhất là viêm màng não mủ.

Vắc xin này được sử dụng ở Việt Nam từ năm 2006, giúp giảm số mũi tiêm cần thiết từ 9 xuống còn 3 để bảo vệ con trẻ tránh khỏi những loại bệnh có thể chủng ngừa. Đến nay Infanrix Hexa đã được cấp phép lưu hành trên 70 quốc gia trên thế giới.

Thành phần định tính và định lượng

Infanrix Hexa chứa biến độc tố bạch hầu, biến độc tố uốn ván, ba kháng nguyên ho gà tinh chế [độc tố ho gà (PT), ngưng kết tố hồng cầu dạng sợi (FHA) và pertactin (PRN; protein màng ngoài 69 kiloDalton)], kháng nguyên bề mặt chính của virus viêm gan B đã được tinh chế (HBV) và polysaccharide vỏ polyribosyl-ribitol-phosphate (PRP) đã được tinh chế của Haemophilus influenzae type b (Hib), liên kết đồng hóa trị với biến độc tố uốn ván, được hấp phụ trên muối nhôm. Nó cũng chứa ba nhóm virus bại liệt bất hoạt (type 1: chủng Mahoney; type 2: chủng MEF-1; type 3: chủng Saukett).

Biến độc tố uốn ván và bạch hầu thu được nhờ xử lý độc tố Corynebacterium diphtheriae và Clostridium tetanitinh chế bằng formaldehyde. Thành phần ho gà vô bào trong vaccine thu được bằng cách chiết xuất và tinh chế từ cấy Bordetella pertussis giai đoạn I, sau đó được loại bỏ độc tố ho gà vĩnh viễn bằng xử lý glutaraldehyde và formaldehyde, và xử lý FHA và PRN bằng formaldehyde. Các biến độc tố bạch hầu, ho gà vô bào, uốn ván được hấp phụ trên muối nhôm. Các thành phần DTPa-HBV-IPV được liên kết với muối và chứa 2-phenoxyethanol.

Kháng nguyên bề mặt HBV được sản xuất nhờ việc nuôi cấy tế bào nấm men theo công nghệ di truyền (Saccharomyces cerevisiae), các tế bào này mang gen quy định kháng nguyên bề mặt chủ yếu của HBV. HBsAg trên bề mặt các tế bào nấm men được tinh chế qua một số công đoạn lý hóa. Khi chưa qua quá trình xử lý hóa học, HBsAg kết tụ một cách tự nhiên thành những tiểu phân hình cầu, đường kính trung bình 20nm, chứa polypeptide HBsAg không glycosyl hóa và một khuôn lipid chủ yếu gồm các phospholipid chính. Các thử nghiệm trên phạm vi rộng đã chứng minh những phần tử này có những tính chất đặc trưng của HBsAg tự nhiên.

Ba chủng virus bại liệt được nuôi cấy trên dòng tế bào VERO liên tục, được tinh chế và bất hoạt bằng formaldehyde.

Vỏ polysaccharide Hib được điều chế từ Hib, chủng 20.752 và sau đó kích hoạt bằng cyanogen bromide và dẫn xuất với một chất đệm hydrazide ái mỡ để liên kết với biến độc tố uốn ván nhờ ngưng tụ carbodimide. Sau khi tinh chế hợp chất này được hấp thụ trên muối nhôm và sau đó được đông khô với chất ổn định là lactose.

Infanrix Hexa đáp ứng yêu cầu của Tổ chức Y tế Thế giới về việc sản xuất các sinh phẩm bạch hầu, uốn ván, ho gà và vaccine phối hợp; vaccine viêm gan B điều chế bằng kỹ thuật tái tổ hợp DNA; vaccine bại liệt bất hoạt và vaccine Hib phối hợp.

Một liều vaccine 0,5ml chứa không dưới 30IU biến độc tố bạch hầu hấp phụ, không dưới 40IU biến độc tố uốn ván hấp phụ, 25mcg PT hấp phụ, 25mcg FHA hấp phụ, 8mcg pertactin hấp phụ, 10mcg protein HBsAg tái tổ hợp hấp phụ, 40 đơn vị D-kháng nguyên type 1 (Mahoney), 8 đơn vị D-kháng nguyên type 2 (MEF-1) và 32 đơn vị D-kháng tnguyên type 3 (Saukett) của virus bại liệt. Nó cũng chứa 10mcg vỏ polysaccharide đã tinh chế hấp phụ của Hib (PRP) liên kết đồng hóa trị với 20 – 40mcg biến độc tố uốn ván (T).

Dạng bào chế: Bột và huyền dịch để tiêm.

Các đặc điểm lâm sàng

Chỉ định điều trị

Infanrix Hexa được chỉ định để tiêm chủng cơ bản và tiêm nhắc lại cho trẻ phòng ngừa bệnh bạch hầu, , ho gà, uốn ván, viêm gan B, bại liệt và Haemophilus influenzae type b.

Liều lượng và cách dùng

Tiêm chủng cơ bản

Lịch tiêm chủng cơ bản gồm 3 mũi 0,5ml (vào 2, 3, 4 tháng; 3, 4, 5 tháng; 2, 4, 6 tháng) hoặc 2 mũi (vào 3, 5 tháng). Khoảng cách giữa mỗi mũi tiêm ít nhất là 1 tháng. Chỉ nên áp dụng theo lịch của chương tình tiêm chủng mở rộng (vào 6, 10, 14 tuần) khi trẻ đã được tiêm vaccine viêm gan B tại lúc sinh. Nên duy trì phương pháp dự phòng miễn dịch chống viêm gan B tại mỗi nước. Khi tiêm phòng viêm gan B tại lúc sinh, có thể sử dụng Infanrix Hexa để thay thế cho liều vaccine viêm gan B bổ sung từ 6 tuần tuổi. Nên sử dụng liều vaccine viêm gan B đơn giá nếu cần tiêm mũi thứ 2 trước 6 tuần tuổi.

Tiêm nhắc lại

Sau khi tiêm chủng 2 mũi (3, 5 tháng) bằng Infanrix Hexa TM, nên tiêm mũi nhắc lại sau mũi tiêm cuối cùng ít nhất là 6 tháng và tốt nhất là giữa 11 và 13 tháng tuổi.

Sau khi tiêm chủng 3 mũi (ví dụ vào 2, 3, 4 tháng; 3, 4, 5 tháng; 2, 4, 6 tháng) bằng Infanrix Hexa TM, nên tiêm mũi nhắc lại sau mũi tiêm cuối cùng ít nhất là 6 tháng và tốt nhất là trước 18 tháng tuổi.

Nên tiêm mũi nhắc lại theo khuyến cáo chính thức.

Có thể xem xét tiêm mũi nhắc lại bằng Infanrix Hexa nếu thành phần phù hợp với khuyến cáo chính thức.

Sự kết hợp giữa các kháng nguyên khác nhau đã được nghiên cứu qua các thử nghiệm lâm sàng sau khi tiêm chủng cơ bản bằng Infanrix Hexa TM, kết quả cho thấy có thể sử dụng chúng cho liều nhắc lại: bạch hầu, ho gà vô bào, uốn ván (DTPa); bạch hầu, ho gà vô bào, uốn ván, Haemophilus influenzae type b (DTPa/Hib); bạch hầu, ho gà vô bào, uốn ván, bại liệt bất hoạt, Haemophilus influenzae type b (DTPa-IPV/Hib); bạch hầu, ho gà vô bào, uốn ván, viêm gan B, bại liệt bất hoạt và Haemophilus influenzae type b (DTPa-HBV-IPV/Hib).

Infanrix Hexa dùng cho tiêm bắp sâu.

Chống chỉ định

Quá mẫn với hoạt chất hoặc với bất kỳ tá dược hoặc chất tồn dư nào (xem phần 6.1).

Quá mẫn sau mũi tiêm vaccine bạch hầu, ho gà, uốn ván, viêm gan B, bại liệt hoặc Hib trước đó.

Chống chỉ định dùng Infanrix Hexa nếu trẻ có biểu hiện bệnh não không rõ nguyên nhân trong vòng 7 ngày sau tiêm chủng bằng vaccine có chứa thành phần ho gà. Nên ngừng tiêm vaccine ho gà trong những trường hợp này và nên tiếp tục lịch tiêm chủng với những vaccine bạch hầu – uốn ván, viêm gan B, bại liệt bất hoạt và Hib.

Cảnh báo và thận trọng đặc biệt

Giống như các vaccine khác, nên hoãn tiêm Infanrix Hexa cho những người đang sốt cao cấp tính. Không chống chỉ định khi có biểu hiện nhiễm khuẩn nhẹ.

Nên hỏi tiền sử y khoa trước khi tiêm chủng (nhất là việc tiêm chủng trước đó và khả năng có thể xảy ra các tác dụng ngoại ý) và kiểm tra lâm sàng.

Nên thận trọng cân nhắc quyết định có sử dụng thêm vaccine chứa thành phần ho gà hay không nếu bất kỳ một trong những biểu hiện sau xuất hiện tạm thời và có liên quan đến việc tiêm chủng bằng vaccine có chứa ho gà:

· Nhiệt độ ≥ 40oC trong vòng 48 giờ mà không liên quan đến nguyên nhân không rõ ràng khác;

· Suy sụp hoặc tình trạng giống shock (giai đoạn nhược trương – giảm đáp ứng) trong vòng 48 giờ sau tiêm chủng;

· Quấy khóc kéo dài ≥ 3 giờ, xuất hiện trong vòng 48 giờ sau tiêm chủng;

· Co giật có hoặc không kèm theo sốt, xuất hiện trong vòng 3 ngày tiêm chủng.

Trong một vài trường hợp, như khi tỷ lệ mắc bệnh ho gà cao, thì lợi ích mạng lại là vượt trội các nguy cơ có thể xảy ra.

Cũng như tất cả các vaccine dạng tiêm, luôn có sẵn biện pháp điều trị y tế và theo dõi thích hợp đề phòng shock phản vệ, mặc dù hiếm xảy ra sau tiêm chủng.

Nên thận trọng khi sử dụng Infanrix Hexa đối với những người giảm bạch cầu hoặc rối loạn máu chảy do có thể xuất hiện chảy máu sau khi tiêm bắp ở những người này.

Không tiêm Infanrix Hexa vào tĩnh mạch hoặc trong da.

Infanrix Hexa chứa rất ít neomycin và polymyxin. Nên thận trọng khi sử dụng vaccine này cho những bệnh nhân đã biết quá mẫn với một trong hai kháng sinh trên.

Infanrix Hexa không phòng được bệnh gây ra bởi những tác nhân gây bệnh khác không phải Corynebacteriu diphtheriae, Clostridium tetani, Bordetella pertussis, virus viêm gan B, virus bại liệt hoặc Haemophilus influenzae type b. Tuy nhiên, có thể phòng ngừa được viêm gan D (gây ra bởi tác nhân delta) do viêm gan D thường không xuất hiện nếu không bị nhiễm viên gan B.

Đáp ứng miễn dịch bảo vệ có thể không tạo ra ở toàn bộ các trẻ được tiêm vaccine (xem phần Đặc tính dược học).

Không chống chỉ định dùng Infanrix Hexa khi có tiền sử co giật do sốt, tiền sử gia đình về co giật, tiền sử gia đình về Hội chứng tử vong đột ngột ở nhũ nhi (SIDS). Trẻ có tiền sử co giật do sốt nên được theo dõi chặt chẽ khi tiêm vaccine vì có thể xuất hiện tác dụng phụ trong vòng 2 đến 3 ngày sau tiêm.

Suy giảm miễn dịch mắc phải do virus (HIV) không được xem là chống chỉ định. Có thể không đạt được đáp ứng miễn dịch như mong đợi sau khi tiêm chủng cho những bệnh nhân ức chế miễn dịch.

Do kháng nguyên polysaccharide vỏ Hib được bài tiết vào nước tiểu nên có thể thấy test nước tiểu dương tính trong vòng 1-2 tuần sau khi tiêm vaccine. Nên tiến hành các test khác để khẳng định nhiễm Hib trong giai đoạn này.

Dữ liệu giới hạn từ 169 trẻ sinh non cho thấy có thể tiêm Infanrix Hexa cho trẻ sinh non. Tuy nhiên, có thể quan sát thấy đáp ứng miễn dịch thấp hơn và vẫn chưa biết mức độ bảo vệ trên lâm sàng.

Tương tác với các thuốc khác và các dạng tương tác khác

Chưa có đầy đủ dữ liệu về an toàn và hiệu quả khi tiêm Infanrix Hexa cùng lúc với vaccine sởi – quai bị – rubella do đó không khuyến cáo dùng chung các vaccine này.

Dữ liệu về việc sử dụng đồng thời Infanrix Hexa với PrevnarTM/PrevenarTM(vaccine kết hợp pneumococcal saccharide, hấp phụ) không cho thấy ảnh hưởng liên quan trên lâm sàng trong đáp ứng kháng thể với mỗi kháng nguyên riêng biệt khi tiêm chủng cơ bản với 3 mũi vaccine. Tuy nhiên, đã có báo cáo tăng tỷ lệ sốt cao (>39,5oC) ở trẻ tiêm Infanrix Hexa và PrevnarTM/PrevenarTMso với trẻ chỉ tiêm vaccine sáu giá trị.

Có thể áp dụng điều trị hạ sốt theo hướng dẫn của từng nước.

Cũng như các vaccine khác, có thể không đạt được đáp ứng như mong đợi ở những bệnh nhân điều trị ức chế miễn dịch hoặc những bệnh nhân suy giảm miễn dịch.

Thai kỳ và cho con bú

Do Infanrix Hexa thường không sử dụng cho người lớn nên không có sẵn số liệu tương ứng về việc sử dụng vaccine trong thai kỳ hoặc cho con bú và nghiên cứu về khả năng sinh sản trên động vật.

Ảnh hưởng đến khả năng lái xe và vận hành máy móc

Vaccine này không gây ảnh hưởng đến khả năng lái xe và vận hành máy móc.

Quá liều

Không có số liệu về quá liều.

Các đặc tính của thuốc

Danh sách tá dược

Lactose, natri chloride (NaCl), 2-phenoxyethanol, hydroxide nhôm, phosphate nhôm, nước pha tiêm. Medium 199 (như chất ổn định chứa amino acid, muối khoáng, các vitamine và chất bổ sung khác), kali chloride, disodium phosphate, monopotassium phosphate, polysorbate 20 và 80, glycine, formaldehyde, neomycin sulphate, polymyxin B sulphate tồn tại dưới dạng tồn dư từ quá trình sản xuất.

Tính không tương thích

Không trộn Infanrix Hexa với vaccine khác trong cùng bơm tiêm.

Hạn dùng

Hạn dùng của vaccine được ghi trên nhãn và vỏ hộp. Ngày sử dụng cuối cùng tương ứng với ngày đầu tiên của tháng nêu trên vỏ hộp.

Thận trọng đặc biệt khi bảo quản

Infanrix Hexa nên được bảo quản ở +2oC đến +8oC. Tránh ánh sáng.

Nên tuân thủ khuyến cáo về điều kiện bảo quản vaccine trong quá trình vận chuyển.

Không đông đá huyền dịch DTPa-HB-IPV và vaccine đã hoàn nguyên. Loại bỏ nếu vaccine bị đông đá.

Đóng gói

DTPa-HB-IPV là huyền dịch trắng đục được đóng trong bơm tiêm. Trong khi bảo quản, có thể xuất hiện chất tủa trắng và chất nổi trong.

Vaccine đông khô Hib dưới dạng viên màu trắng đựng trong lọ thủy tinh hoặc lọ thủy tinh có Bioset®.

Lọ và bơm tiêm được làm từ thủy tinh trung tính loại I, tuân theo các tiêu chuẩn của Dược điển Châu Âu.

Hướng dẫn sử dụng & bảo quản

Nên lắc kỹ huyền dịch DTPa-HB-IPV để tạo huyền dịch tủa trắng đồng nhất. Nên kiểm tra bằng mắt xem huyền dịch DTPa-HB-IPV và bột Hib có phần tử lạ và /hoặc thay đổi về màu sắc hay không. Loại bỏ vaccine nếu có bất kỳ thay đổi nào.

Nên hoàn nguyên vaccine bằng cách cho toàn bộ phần chứa trong bơm tiêm vào lọ chứa bột Hib. Thực hành lâm sàng tốt là chỉ tiêm sau khi vaccine hoàn nguyên đã được đưa về nhiệt độ phòng. Hơn nữa, lọ tại nhiệt độ phòng đảm bảo nắp cao su co giãn phù hợp để giảm thiểu mảnh cao su. Để đạt được điều này, nên để vaccine trong nhiệt độ phòng (25±3oC) ít nhất 5 phút trước khi nối với bơm tiêm và hoàn nguyên vaccine.

Lọ và bơm tiêm

Vaccine sau khi hoàn nguyên là huyền dịch có màu hơi đục hơn so với một mình dung môi. Đó là điều bình thường và không làm giảm hiệu lực của vaccine. Loại bỏ vaccine nếu quan sát thấy bất thường.

Nên tiêm vaccine ngay sau khi hoàn nguyên. Tuy nhiên có thể giữ vaccine đến 8 giờ tại nhiệt độ phòng (21oC).

Lọ có Bioset® và bơm tiêm (xem hình vẽ)

1. Để hoàn nguyên, xoắn và loại bỏ nắp bao ngoài của lọ có nắp Bioset®chứa thành phần Hib và loại bỏ nắp của bơm tiêm.

2. Nối bơm tiêm (không có kim) vào lọ có nắp Bioset®và ấn xuống mà không đẩy vào nắp cho đến khi bơm tiêm ở vào vị trí nghe thấy tiếng ‘click’.

3. Bơm dung dịch trong bơm tiêm vào lọ và lắc kỹ cho đến khi bột Hib tan hoàn toàn.

4. Rút lại vaccine đã hoàn nguyên vào bơm tiêm và tháo bơm tiêm ra khỏi lọ rỗng có nắp Bioset®

5. Lắp kim tiêm vào bơm để tiêm vaccine.

Vaccine đã hoàn nguyên có dạng huyền dịch với màu hơi đục hơn so với một mình dung môi. Hiện tượng đó là bình thường và không làm giảm tác dụng của vaccine. Loại bỏ vaccine nếu quan sát thấy thay đổi khác thường.

Nên tiêm vaccine ngay sau khi hoàn nguyên. Tuy nhiên có thể giữ vaccine đến 8 giờ tại nhiệt độ phòng (21oC).