Lương thực của thiên sứ

TP - Thiên sứ đứng dưới ánh đuốc sáng trầm tư hồi lâu, khuôn mặt thiên sứ giờ trở nên trắng bạch như tuyết, từ trong mắt thiên sứ có một giọt nước mắt chầm chậm lăn xuống, như một hạt châu đeo bên gò má ông...

Tô Đồng. Ảnh: Hữu Việt
Cơn bão qua, đất hai bờ sông còn rên rỉ, những cây bắp non bị bão nhổ bật gốc trôi từng đống lớn trên sông, như những ngọn cù lao mới nổi dật dờ giữa dòng, trên đó còn xác một con gà mái hay con lợn chết.

Đường vào thôn bùn lầy nhão nhoét, dòng nước nhỏ vàng khè chảy từ ngọn đồi xuống, mất hút trong vũng nước sâu, nhưng cũng không hoàn toàn biến mất hẳn, vài dòng bùn tích từ giữa vũng, bò ngoằn ngoèo vào tận bậc tam cấp những nhà trong thôn.

Sau cơn bão, người trong thôn lũ lượt chui ra từ mái tranh, nhiều người để ý tới những hạt lúa vàng óng nổi đầy trên bề mặt dòng nước bò dưới bậc thềm, họ vớt những hạt lúa từ nước lên, bóc vỏ trấu rồi bỏ vào mồm nhằn, mùi lõi gạo còn mới còn thơm, họ thấy chuyện này lạ quá chừng, giờ đâu phải mùa gặt, những hạt thóc kia trôi từ đâu tới thôn?

Chiếc xe bò của thiên sứ rốt cuộc đã xuất hiện trên gò đất ngoài làng, người đầu tiên phát hiện thiên sứ là Toàn, cậu bé chăn ngỗng, Toàn nhìn thấy người đàn ông vai khoác áo tơi kéo chiếc xe bò lên đỉnh dốc, người đàn ông vừa đi vừa hát, miệng ngâm nga một khúc lạ. Toàn không quen người này, Toàn vội vã đuổi đàn ngỗng xuyên qua mảnh đất rìa sông, tới chặn đường người lạ.

Tô Ðồng: Sinh năm 1963 tại Giang Tô (TQ). Ông học khoa Văn tại Ðại học Sư phạm Bắc Kinh.

Tác giả "Thê thiếp từng bầy" (phim Đèn lồng đỏ treo cao), "Một vụ án mạng", "Chỉ nam cho li hôn", "Lương thực của thiên sứ", "Thời đại xăm mình", "Cuộc sống vương giả của tôi" 2006, "Võ Tắc Thiên"...

Ông từ đâu tới? Toàn dùng cành liễu vạch một đường trên đất bùn, lườm người lạ đầy cảnh giác, nó nói, thôn tôi đã chết mấy người rồi, không cho kẻ lạ vào thôn.

Tôi không phải người lạ, người đó đáp, tôi là thiên sứ.

Ai thèm quan tâm ông mang họ Thiên hay là họ Địa, dù gì ông cũng là người lạ. Toàn chú ý chiếc xe bò đậy bằng chiếu cỏ lau, vài hạt thóc vàng óng đang rơi ra từ khe hở tấm chiếu lau, giọng Toàn vì thế trở nên vui sướng, xe ông chở cái gì đấy? Thóc phải không?

Là thóc. Thiên sứ mỉm cười ngoái lại, ông đi tới xe bò lật một góc tấm chiếu lau. Nhìn này, những hạt thóc căng tròn làm sao, thiên sứ nói, tiếc là thời tiết xấu, đường khó đi, đã rơi mất bao nhiêu thóc rồi.

Toàn chạy tới gục đầu lên xe, hít ngửi thật sâu, nó nói, ông đến đây bán lương thực à? Giờ đem thóc bán chắc chắn đắt bẹp người.

Tôi là thiên sứ, thiên sứ không mua không bán. Thiên sứ kéo xe bò thận trọng xuống dốc, vừa đi vừa ngóng về phía làng, không ngọn khói bếp cơm, thật sự là không có khói bếp, thiên sứ phảng phất nói, những tin người trần gian thường chậm một bước, thật tiếc ta đã đến chậm rồi.

Toàn không biết thiên sứ là gì, cũng không hiểu ông ta nói gì. Toàn đuổi đàn ngỗng chạy theo sau chiếc xe bò, nó thấy người tự xưng thiên sứ bước đi mệt mỏi, đôi gót trần bám đầy bùn đất, đôi giọt nước long lanh lăn ra từ áo tơi của ông ta.

Xe bò của thiên sứ lăn qua vạch ngang trên đường, Toàn không ngăn ông ta nữa, vì nó biết một xe thóc có thể làm no được bao nhiêu cái bụng trống không, có lương thực, sẽ bao nhiêu người sống qua được mùa xuân này.

Toàn nhớ nó đã suốt mấy ngày ăn toàn rau dại vỏ cây, không ngờ xe bò của thiên sứ tới rồi, thóc trên xe tỏa ra mùi thơm tho đến ngây cả người, cậu bé chăn ngỗng đói khát không kìm được lòng vục tay vào xe, vốc trộm một nắm thóc to...

Người trong làng tụ tập phía ngoài sân nhà trưởng thôn, già trẻ lớn bé mặt xanh nanh vàng, tay ai cũng nắm một chiếc vỏ bao gạo vải thô, nghển cổ trông vào cánh cổng nhà trưởng thôn.

Những người đứng trên cùng đã trèo cổng lên trên bức tường bao, như thế này họ thấy được cái người tự xưng thiên sứ, nhìn thấy cả chiếc xe bò của thiên sứ, một chiếc xe chở đầy thóc vàng óng, xuất hiện trong sân trưởng thôn tựa như một phép diệu kỳ. Những người bò trên tường reo hò điên cuồng sung sướng, thằng Toàn không lừa, đúng là có hẳn một xe thóc, đúng là một đấng từ thiện đã tới rồi!

Trưởng thôn cuối cùng đã mở cổng, mặt trưởng thôn đỏ bừng, trên đầu trên vai ông lấm đầy vỏ trấu. Từng người từng người lọt vào, mỗi người năm cân thóc (tương đương 2,4 kg), không ai được phép bốc hơn một hạt. Trưởng thôn cao giọng, dâu nhà Lý nào, bà Vương nào, các bà đừng có ở đó mà thậm thọt, các bà nghi ngờ tôi ăn bớt một hạt là các bà mù mẹ nó lương tâm rồi, tôi mà chiếm mà ăn một hạt thì tôi là đồ con rùa thối tha!

Đức đại thiện này từ đâu tới? Dân làng có người hỏi.

Tôi cũng không rõ. Trưởng thôn nói, nghe bảo là một thiên sứ, tôi còn chẳng biết thiên sứ là nghề gì.

Thiên sứ bay ở trên trời ấy, làm sao lại chạy xuống đây nhỉ? Thầy giáo trường tư thục trong đám người thốt lên kinh ngạc, ông trợn to mắt, thiên sứ đều mọc hai cái cánh, thế người kia có cánh không?

Ông lảm nhảm cái gì thế? Trưởng thôn giận dữ lườm thầy giáo, ông là cái đồ không biết phải trái tốt xấu gì, cho ông chết đói cũng đáng kiếp, người ta tốt bụng mang lương thực đến, ông lại nguyền rủa họ mọc cánh, người ta có phải là chim đâu, làm sao lại có cánh cơ chứ?

Lời trưởng thôn được tất cả mọi người ủng hộ. Thôi ông đừng đến lấy thóc của người ta nữa, họ hò nhau một tiếng, hùa vào đẩy bật thầy giáo ra khỏi hàng, bọn trẻ con thường ngày vừa sợ vừa ghét ông thầy, nhân lúc này nhổ nước bọt vào lưng ông, còn Toàn, cậu bé chăn ngỗng thì chạy thẳng ra trước mặt ông thầy giáo giận đùng đùng nói, người ta là người tốt, người ta không phải là chim, tôi nhìn thấy ông ta đầu tiên, chính tôi dẫn ông ta đến nhà trưởng thôn, thầy vu oan cho người ta, thì sao lại còn nhận thóc của họ nữa?

Đám đông dân làng hỗn loạn mất một lúc, những người chen phía trên đã lọt được vào sân, những người sau đều cuống lên, dào lên trước như bầy ong. Có bà bị dúi vào dưới chân người khác, gào vỡ cổ.

Trưởng thôn dồn hết sức bình sinh dang tay ghì chặt hai cánh cổng đang rung bần bật sắp đổ ập, luôn mồm chửi rủa đám dân làng, thấy được ăn không thì cuống lên như thế này đấy ư? Cả đời các ông các bà chưa nhìn thấy lương thực ư? Cứ kiểu này, tôi sẽ bảo thiên sứ mang lương thực đi về đi!

Trưởng thôn nổi cơn lôi đình, đám người trật tự lại đôi chút. Rõ ràng không ai muốn mất đi phần thóc cứu mạng. Bỗng lại có người hỏi, chỗ thóc này được phát không thật ư? Liệu đến mùa có phải trả nợ không đây?

Đậy cái mồm thối của mày lại, trưởng thôn không nhịn được mắng, bảo lấy thì các người cứ lấy đi, có việc gì thì để tôi giơ đầu ra hứng, các người ăn cơm thì nhớ đến lòng tốt của tôi đấy, thế là được rồi!

Giờ những dân làng lĩnh thóc đều đã nhìn thấy được thiên sứ, thiên sứ đứng sau chiếc xe bò, thiên sứ mang khuôn mặt trẻ trung nhưng khô khan buồn, thần thái nghiêm trang song thanh thản, cái làm mọi người ngạc nhiên là tay thiên sứ cùng thứ đồ vật trong đôi tay thiên sứ, đôi tay trắng muôn muốt như hoa sen ấy nâng niu một cái vò gốm đen, ôm chặt lấy trước ngực. Cái vò gốm đen nuốt bao ánh mắt tò mò, có người xách bao gạo chen qua, hiếu kỳ dòm vào lòng vò, họ phát hiện chiếc vò gốm trống rỗng.

Chiếc vò gốm trong tay thiên sứ mê hoặc lũ dân làng, họ không dám mạo muội hỏi thiên sứ, mà rút lui ra rồi bắt đầu tranh cãi. Có người bảo chiếc vò kia để đựng lương thực đó, bảo thiên sứ không có bao bố đựng gạo, vì thế dùng vò để đựng, lại có người nói, những nhà từ thiện làm gì có chuyện tiếc rẻ năm cân gạo, như một người nếu đem nhà đi tặng người khác, thì chắc chắn không bao giờ lột lại mảnh ngói trên nóc đâu, chiếc vò chắc chắn phải dùng để đựng thức khác, biết đâu đó là cái bô để đi tiểu ban đêm thì sao nào!

Cậu Toàn chăn ngỗng lĩnh xong lương thực cứ đứng sau lưng thiên sứ, như thể thiên sứ là họ hàng nhà cậu, Toàn không chỉ tì vào dòm trong vò, còn thò tay vào trong khua khoắng, xong nói với người xung quanh, chẳng có gì ở trong đó, rỗng không.

Thiên sứ không trách Toàn, mắt thiên sứ nhìn khắp những đôi mắt dân làng, sự thanh thản của ông dần trở nên đau buồn. Không ai biết ông đang nghĩ gì, phải chăng ông đang hối hận đã mang lương thực tặng không cho người, có thể ông đang đợi báo đáp gì từ họ? Đám người bỗng dưng có chút lúng túng, bê lấy bao thóc lui ra ngoài.

Toàn không đi, nó lại nhìn vào lòng chiếc vò của thiên sứ, không nhịn được kêu to, sao ông không nói gì thế? Ông trở nên bị câm à, tôi hỏi ông đây, ông định cất cái gì vào vò đấy? Đám người tức khắc yên ắng, hầu như tất cả đều dương mắt ngóng vào thiên sứ, tất cả đều dỏng tai nghe thiên sứ trả lời.

Gương mặt mệt mỏi khô xác của thiên sứ thoáng qua một nét cười, ông cúi đầu, dịu dàng xoay một vòng cái vò trong tay, rồi ông đáp, đây là một vật thánh, ta sẽ đựng đầy nó nước mắt nhân gian.

Dân làng nhìn nhau, họ chống mắt nhìn cái vò trong tay thiên sứ hồi lâu, trên gương mặt mọi người cùng hiện lên vẻ sợ hãi, có những người vác bao thóc lên ngay cuống quýt chạy trốn, không biết ai ở tường ngoài thét lên một tiếng, khản cả giọng mà thét, thằng điên, là một thằng điên!

* * *

Ảnh minh họa
Mấy ngày nay khắp làng tràn đầy không khí hội hè, cái làng nghèo này đã vì đói mà bấy lâu nay thoi thóp, nhưng lương thực thiên sứ mang tới đã lấy lại hơi sống cho con người. Lũ trẻ con lại ra đầu thôn chơi bời chạy đuổi bắt, bờ sông lại vang tiếng đám phụ nữ vắt áo vo gạo, và bọn đàn ông lại tụ tập dưới gốc hoè lớn, hút những điếu thuốc vụn gần như đã lên meo, tán những chuyện đùa thô tục hạ lưu.

Cậu thiếu niên chăn ngỗng tên Toàn bắt gặp thiên sứ trên bậc thềm vào miếu, thiên sứ gà gật, đôi tay ông ta vẫn ôm chặt cái vò gốm đen. Một chú ong mật vè vè lượn quanh thiên sứ một chặp, rơi xuống áo tơi thiên sứ. Toàn sợ con ong ăn hiếp đốt ông, bèn dùng một gậy trúc mảnh đuổi chú ong mật bay đi. Thiên sứ vẫn nhắm mắt, khuôn mặt thiên sứ hắt lên màu vàng kim thần bí.

Toàn ngắm nghía gương mặt thiên sứ, đột ngột nhớ ra lời ông thầy giáo trường tư đã từng nói: Thiên sứ đều có hai cánh, trong làng có nhiều người tin lời thầy giáo, Toàn rất thèm được biết thiên sứ có mọc hai cánh thật không, nó không kìm được chìa đầu gậy trúc về phía thiên sứ, nó định gẩy chiếc áo tơi trên người thiên sứ ra, nhưng đúng lúc đó thiên sứ tỉnh giấc, thiên sứ đột ngột mở mắt, ông bảo, nhóc, cậu còn đói không?

Không đói đâu, tôi vừa ăn ba bát cháo. Toàn vén áo cho thiên sứ thấy cái bụng tròn xoe của mình, Toàn nói, sao chẳng thấy ông ăn cháo, hay ông ăn cơm trắng ở nhà trưởng thôn rồi chăng?

Nhóc, cậu quên ta là thiên sứ ư, ông ta nói, ta là thiên sứ, thiên sứ không ăn lương thực ngũ cốc.

Trong làng toàn bảo ông là thằng điên, lương tâm bọn họ bị chó ăn tiệt rồi, tôi biết ông là người rất tốt, chỉ có những người quá tốt như ông mới đem lương thực cho người khác, còn mình nhịn đói.

Ta không điên, ta cũng không phải người tốt. Thiên sứ nói, ta là thiên sứ, chỉ tiếc mọi người trước đây chưa từng gặp thiên sứ.

Tôi biết ông là thiên sứ, mà thiên sứ cũng có nhà chứ, nhà ông ở đâu? Toàn hỏi, thiên sứ sao ông không về nhà đi?

Thiên sứ giờ mới hé ra một nụ cười đắng chát, ông lắc chiếc vò gốm đen về phía Toàn. Vò trống rỗng, thiên sứ nói, ta không thể trở về, ta không thể mang một chiếc vò không trở về.

Ông định dùng cái vò này đựng nước mắt thật sao? Toàn rúc rích cười, nhưng ánh mắt thiên sứ hắt tới làm nó nhịn tiếng cười lại trong cổ họng, Toàn liền bưng miệng nói, nhưng mà, nhưng mà, thế ông định ra đâu để kiếm được chừng đấy nước mắt?

Ta cứ tưởng rằng đây là cái làng rơi rất nhiều nước mắt, có lẽ ta đã nhầm rồi, thiên sứ nhìn xa xăm ra đám đàn ông đứng dưới gốc hòe lớn, ông nói, thật kỳ lạ, ở đây không có ai khóc than, cậu nghe đi, họ đang đứng ở kia và cười kìa!

Bọn họ rỗi việc thì ra đó đứng tán phét, mà hễ tán chuyện là cười. Toàn nói, trẻ con thì mới thích khóc cơ, nhưng cả mấy đứa trẻ con trong thôn đều chết cả rồi, chết rồi thì không khóc.

Chết nhiều thế, vì sao không nghe tiếng than khóc? Thiên sứ hỏi, sao kỳ quặc thế, họ không thể khóc vì người thân sao.

Hồi đầu tiên người chết còn có người khóc, sau này người chết nhiều lên, họ chẳng khóc nữa. Toàn nói, bà nội tôi chết đói rồi, ông nội và mẹ tôi không khóc, tôi cũng chẳng khóc.

Vì sao không khóc, bà nội cậu không thương yêu cậu ư?

Bà nội thương tôi, nhưng bà đã chết mất rồi còn gì. Toàn nói, ông nội tôi bảo người chết không thể sống trở lại, khóc có ích gì? Có khóc thế nào cũng không thể gọi họ tỉnh lại.

Tôi không tin các người không có nỗi đau. Thiên sứ nói, tôi không tin, cái làng bao nhiêu tai hoạ thế này sao lại không có nước mắt.

Chúng tôi không có nước mắt, lừa ông làm gì, chúng tôi thật sự làm gì có nước mắt!

Tôi cứ nghĩ nước mắt người ở đây đã chảy thành sông, nhưng tôi đã chờ ba ngày rồi, cái vò vẫn trống rỗng. Thiên sứ lặng lẽ đặt cái vò xuống đất, đột nhiên ông nghĩ ra điều gì đó, này nhóc tôi hỏi cậu, trước khi tôi tới làng có ai khóc không? Lúc các người đói tới kiệt cùng có ai khóc không?

Không, Toàn lắc đầu đáp, đói kiệt rồi sức đâu ra để khóc chứ, cũng có người nằm trên giường hức hức, họ chỉ toàn rên hức hức, không có nước mắt.

Nhóc, tôi hỏi cậu lần nữa, khi các người được phân thóc rồi có ai khóc không? Thiên sứ lại hỏi, liệu có ai vì cảm kích mà rơi nước mắt không?

Không có ai, Toàn càng kiên quyết lắc đầu, nó nói, lĩnh được lương thực rồi càng không thể khóc, có cái ăn rồi mà còn khóc, thì chẳng phải là đồ ngốc sao?

Bây giờ, thiên sứ trầm ngâm một hồi, ông ta chăm chú nhìn Toàn, mắt ngập đầy nỗi đau buồn.

Sao ông lạ đời thế, sao ông lại muốn làm người khác khóc?

Ánh mắt đau buồn của thiên sứ nhìn quanh ngôi làng hoàng hôn, ông nhìn thấy những mái nhà tranh lại bốc lên khói cơm chiều, và tiếng đám đàn ông dưới gốc hoè lớn lại vẳng đến rõ mồn một, cậu nghe, bọn họ đang nói chuyện gì thế, mặt thiên sứ hiện lên vẻ đau khổ.

Ông nói, ta không thể tin rằng, bọn đàn ông dùng cuốc sắt để đánh vào chân phụ nữ, dùng xẻng để đập vào tay phụ nữ, mà đám phụ nữ đáng thương kia, lại đang giặt giũ cho chính bọn đàn ông đó bên bờ sông, đám phụ nữ bị đánh đập kia họ cũng không khóc lóc sao?

Có bà cũng khóc, nhưng bọn họ toàn chỉ gào khan thôi, đến một hạt lệ cũng không có. Thôi đừng nói những chuyện này nữa, cứ nói mãi làm gì? Toàn bực bội, cậu thấy một con ngỗng rời đàn, vội chạy theo đập vào đuôi, một quả trứng ngỗng đúng lúc đó rơi xuống đất, ngỗng đẻ trứng rồi!

Toàn kinh ngạc vui sướng reo lên một tiếng, đây là quả trứng ngỗng đầu tiên của năm! Toàn đưa cao tay nâng quả trứng ngỗng lên, dâng tới trước mặt thiên sứ, cho ông này, Toàn nói, ông cho chúng tôi bao nhiêu lương thực, tôi nên tặng quả trứng ngỗng này cho ông, mang trứng về nhà đi, đừng ngồi đây chờ nước mắt nữa, còn tiếp tục chờ, người làng sẽ cho ông là thằng điên, bọn họ sẽ trói ông lại ném xuống sông đấy!

Ta là thiên sứ, thiên sứ không sợ trói, không sợ nước lửa. Thiên sứ lắc lắc đầu, đưa tay ra đặt nhẹ lên đỉnh đầu Toàn, ông nói, cậu nhóc, chỉ có cậu làm ta cảm thấy được an ủi, trong đôi mắt cậu ẩn giấu bao nhiêu lệ, rồi có một ngày chúng sẽ lăn ra.

Bàn tay lạnh giá của thiên sứ trên đầu Toàn trượt nhẹ xuống, khi bàn tay đó chạm vào đôi mắt Toàn, Toàn vô cớ rùng mình một cái, theo một bản năng nào đó nó vội né ngay bàn tay thiên sứ, nó nhìn thấy ánh mắt và vẻ kinh ngạc của thiên sứ, nhìn thấy áo tơi của thiên sứ trượt rơi mạnh sang hai bên, như một con sò mở vỏ ra, và rồi Toàn thét lên những tiếng chói tai.

Cánh

Ông ta có cánh

Cánh

Cậu thiếu niên chăn ngỗng chạy điên cuồng về phía gốc hoè lớn, dọc đường liên tục la hét. Dường như mỗi người dân trong làng đều nghe thấy tiếng hét của cậu ta. Dân làng theo tiếng hét đổ ra khỏi nhà, đúng lúc đó họ nhìn thấy quanh ngôi miếu bốc lên một làn khói màu vàng nhạt, thấp thoáng có thể thấy thiên sứ đứng giữa đám khói sương, sừng sững bất động. Lúc đó họ còn chưa nhìn thấy đôi cánh của thiên sứ, chỉ nhìn thấy chiếc vò gốm đen trong tay thiên sứ, giữa đám khói sương, chiếc vò phát ra hào quang vàng óng thần kỳ.

Dân làng bắt đầu đuổi thiên sứ đi trong buổi đêm hôm thứ ba. Trưởng thôn dẫn một đám đông đến ngôi miếu thiên sứ đang tá túc, những ngọn đuốc trong tay đoàn người làm vùng trời quanh ngôi miếu sáng tỏ như giữa ban ngày.

Ánh đuốc rọi hồng rực lên gương mặt thiên sứ. Thiên sứ dường như dự cảm được ý định của đám dân làng, ta biết các người sẽ đến, chỉ không ngờ lại là đêm nay, trên mặt thiên sứ ngoài nỗi đau buồn đã có thêm vẻ tiều tuỵ, đôi tay ông cũng gấp gáp ôm chặt cái vò gốm đen nâng cao lên, nâng đến tận mặt từng người, các người biết ta chỉ cần nước mắt thôi, ông nói, đã ba ngày rồi, các người vẫn không có nước mắt sao?

Ngươi đừng lảm nhảm điên khùng nữa. Trưởng thôn thách thức đẩy cái vò của thiên sứ ra, ông ta nói, chúng ta cứ tưởng ngươi là một nhà đại đức từ thiện, ai ngờ ngươi là đồ quái vật, nếu sớm biết ngươi là quái vật, chúng ta thà chết đói chứ không bao giờ ăn lương thực của ngươi.

Ta không phải là quái vật, các người biết ta là thiên sứ, thiên sứ nói, lương thực của ta tặng cho mỗi một người đói khát, cái ta lấy về chỉ là nước mắt thôi.

Chúng ta chưa bao giờ khóc, ngươi hãy thôi nghĩ rằng sẽ lấy được lệ chúng ta đi. Trưởng thôn trừng mắt nhìn áo tơi trên người thiên sứ, hung hãn nói, sao ngươi còn chưa cút đi, chẳng lẽ muốn để chúng ta xé tan áo tơi ngươi ra sao? Chúng ta không cần biết ngươi là thiên sứ hay địa sứ, mọc cánh thì nhất định là quái vật rồi, mà quái vật thì không được ở lại trong làng này.

Cánh không phải là dấu hiệu của quái vật, đó là vinh quang của thiên sứ, đáng thương cho các người không biết cái gì là vinh quang, cái gì là nhục nhã. Ánh mắt thiên sứ thương hại nhìn khắp dân làng, ông ôm chặt cái vò thánh vào trước ngực và thốt ra một tiếng than dài, ông nói, ta đoán các người sẽ sử dụng bạo lực, nếu như bạo lực làm cho các người hối hận, hối hận làm cho các người rơi lệ, ta sẽ ở lại chốn này, để các người mặc sức xé tan áo tơi của ta, bẻ gãy đôi cánh của ta, nhưng các người hãy nói cho ta biết đi, các người liệu có khóc không?

Câm mồm. Chúng ta có bỏ ngươi vào lò lửa cũng không bao giờ rơi lệ! Trưởng thôn dậm chân hét vang, ngươi tưởng một xe thóc thì có thể làm chúng ta cùng hoá điên với ngươi ư? Cút mau, cút nhanh khỏi làng chúng ta, ngươi còn lảm nhảm lời điên thì chúng ta sẽ ra tay ngay!

Thiên sứ đứng dưới ánh đuốc sáng trầm tư hồi lâu, khuôn mặt thiên sứ giờ trở nên trắng bạch như tuyết, từ trong mắt thiên sứ có một giọt nước mắt chầm chậm lăn xuống, như một hạt châu đeo bên gò má ông.

Dân làng bỗng nhiên lui lại một bước, họ nhìn thiên sứ chậm chạp ôm vò thánh đi ra khỏi đám người, bước chân thật chậm và mệt nhọc, không khí quanh ngôi miếu bỗng chốc trở nên ẩm ướt và dính đặc lại, rất nhiều người cảm thấy trên mặt mình có nước, ngực không thở nổi, thiên sứ ra tới cổng làng, ngoái đầu lại nhìn ngôi làng lần cuối cùng, rất nhiều người nhìn thấy trên má thiên sứ giọt nước mắt thứ hai, giọt nước mắt thứ ba, những nước mắt đó như mưa châu ngọc rơi vào lòng vò gốm, thánh thót, và thiên sứ cứ vừa khóc như thế vừa nói với dân làng, các người đã vĩnh viễn không bao giờ khóc, nay để ta khóc vì các người!

Và sau đó, dân làng liền nghe thấy thiên sứ khóc, tiếng khóc than của thiên sứ như một chuỗi sấm xuân, chấn động cả những vùng đất và làng mạc thôn xóm trong phạm vi một trăm dặm, thậm chí cả vầng trăng và các vì sao giữa trời cũng bị rung theo, sau này khi người làng nhớ lại lúc thiên sứ khóc, tai họ dường như còn cảm giác bị châm đau buốt, họ bảo thiên sứ khóc còn vang hơn người thường gấp một trăm lần, giọt lệ của thiên sứ long lanh hơn người thường gấp một trăm lần, cái đáng tiếc nhất là không ai thấy thiên sứ bay lên, có người bảo, đó là do đêm tối, trong đêm anh đâu có nhìn thấy được chim bay, cho nên anh cũng không thể nhìn thấy thiên sứ bay.

Hễ nơi nào thiên sứ từng giáng xuống đều có dấu vết để lại, Toàn, cậu thiếu niên chăn ngỗng có một ngày đã phát hiện bên bờ sông chiếc vò gốm đen ấy, nó nhận ra đó chính là chiếc vò thánh mà thiên sứ để lại, chiếc vò mắc kẹt lại giữa đám đá cuội lớn và bùn lầy, trong vò tích đầy nước, Toàn biết đó không phải là nước sông, nó dùng một ngón tay chấm vào nước trong vò, đưa vào mồm nếm, đúng như nó đoán, nước trong vò quả nhiên có một vị đắng và lạnh.

Toàn biết đó là nước mắt của thiên sứ.

Trang Hạ dịch

Video đang được xem nhiều

SEA Games ngày 23/8: Thể dục dụng cụ liên tiếp đoạt 2 HCV

Cùng chuyên mục

Xem thêm Văn nghệ

Mới - Nóng