TP - “Nhân dân là chủ thể tối cao của quyền lực, cả quyền lực chính trị và quyền lực kinh tế. Không một ông vua, không một chính phủ nào có thể tồn tại nếu không có dân”- GS.TS Lê Hồng Hạnh, Viện trưởng Viện Khoa học Pháp lý trao đổi nhân việc lấy ý kiến nhân dân về dự thảo sửa đổi Hiến pháp.

> Cần bản Hiến pháp có đời sống bền vững
> Hiến pháp phải để toàn dân hiểu

GS.TS Lê Hồng Hạnh nói:

Ý nghĩa nổi bật nhất của việc lấy ý kiến của nhân dân về Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 chính là sự thừa nhận ý chí, quyền lực của nhân dân, vị trí tối thượng của nhân dân đối với nội dung bản tuyên ngôn chính trị pháp lý quan trọng bậc nhất của nước Việt Nam.

Nhân dân là chủ thể tối cao của quyền lực, cả quyền lực chính trị và quyền lực kinh tế. Không một ông vua, không một chính phủ nào có thể tồn tại nếu không có dân.

“Chở thuyền cũng là dân, lật thuyền cũng là dân”- triết lý này Nguyễn Trãi nói cách đây hơn 5 thế kỷ rồi. Việc lấy ý kiến về Hiến pháp làm tăng giá trị nhân dân, giá trị dân chủ và tính khả thi của Hiến pháp sau khi được ban hành.

Dân phúc quyết Hiến pháp

“Tha hóa quyền lực, lạm dụng quyền lực là điều khó tránh nếu quyền lực không được kiểm soát?”. GS.TS Lê Hồng Hạnh
“Tha hóa quyền lực, lạm dụng quyền lực là điều khó tránh nếu quyền lực không được kiểm soát?”. GS.TS Lê Hồng Hạnh.
 

Trong thảo luận tại Quốc hội, một số đại biểu đề xuất bổ sung quy định về việc dân phúc quyết Hiến pháp. Phúc quyết, trưng cầu ý dân là quyền rất quan trọng nhưng chưa được quy định rõ ràng là quyền hiển nhiên của người dân cần được hiến định. Lần sửa đổi này theo ông nên được quy định ra sao?

Tôi ủng hộ những ý kiến đó vì những người đưa ra đề xuất như vậy thực sự muốn bản Hiến pháp có nền tảng dân chủ, nền tảng xã hội lớn hơn. Hiến pháp là tuyên bố của nhân dân trao quyền cho các thiết chế chính trị thay mặt nhân dân thực hiện quyền lực được giao phó.

Không phải Quốc hội, không phải Chủ tịch nước, Chính phủ hay Tòa án cho dân quyền này, quyền kia. Chính nhân dân trao cho các cơ quan này quyền lực và họ có trách nhiệm thực thi nó phù hợp với ý chí của nhân dân được thể hiện trong Hiến pháp.

Không ít người, kể cả đại biểu Quốc hội, nhiều chính khách cho rằng Quốc hội có quyền lựa chọn và quyết định hiến định những vấn đề quan trọng của đất nước, ví dụ chọn mô hình nhà nước, chọn chế độ chính trị, vấn đề sở hữu vv...

Tôi cho rằng hiểu như vậy chứng tỏ chưa hiểu bản chất của Hiến pháp. Chỉ có nhân dân mới có quyền lựa chọn và quyết định những điều đó. Chính vì thế, phúc quyết của nhân dân đối với bản Hiến pháp mới hay Hiến pháp sửa đổi phải được coi là quyền đương nhiên của nhân dân.

Dù có đưa vào Hiến pháp quyền phúc quyết hay không, các cơ quan quyền lực nhà nước cũng phải có trách nhiệm đảm bảo để nhân dân thực hiện nó. Đương nhiên chính là ở chỗ đó.

Đảng với tư cách là lực lượng chính trị lãnh đạo xã hội cũng phải đảm bảo để quyền phúc quyết của nhân dân được thực hiện. Giữa phúc quyết và lấy ý kiến nhân dân có sự khác nhau rất lớn về mức độ đảm bảo dân chủ, sự thượng tôn vai trò của nhân dân.

Tôi không thấy có lý do nào để không qui định quyền phúc quyết của nhân dân trong Hiến pháp sửa đổi lần này. Ngay khi đất nước mới giành được độc lập, thù trong giặc ngoài bao vây, chống phá, đa số người dân còn mù chữ, song Đảng và Bác Hồ vẫn chủ trương để nhân dân phúc quyết bản Hiến pháp đầu tiên của đất nước.

Trở lại lịch sử, Hiến pháp năm 1946 đã khẳng định nguyên lý mọi quyền bính đều thuộc về dân. Nhân dân là gốc của mọi quyền lực, trong đó có quyền lực nhà nước. Do đó nhân dân phải được quyền quyết định mọi vấn đề quan trọng nhất của đất nước, thưa ông?

Tôi cho rằng quyền lực của nhân dân trong dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 cần thể hiện theo tinh thần và lời văn của Hiến pháp 1946. Có người cho rằng quay trở lại Hiến pháp 1946 là không đúng, không phù hợp, thậm chí chệch hướng do bối cảnh ngày nay khác với thời điểm năm 1946.

Nếu thực sự hiểu đúng dân chủ, hiểu đúng vai trò của nhân dân thì không có sự đoạn tuyệt như vậy được.

Dù ở trong bối cảnh hiện nay, bối cảnh của 100 năm trước hay của 100 năm sau nếu chúng ta thực sự hiểu đúng bản chất của dân chủ và quyền lực nhân dân thì tuyên ngôn của Hiến pháp 1946 “Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo” vẫn hoàn toàn mang tính thời đại.

Một tuyên ngôn thượng tôn nhân dân trong trong thực thi quyền lực nhà nước in đậm dấu ấn tư tưởng của Bác Hồ mãi mãi là một thiên cổ hùng văn thể hiện khát vọng dân chủ của Nhân dân và của Đảng ta.

Giá trị của tuyên bố trên trong Hiến pháp 1946 thiêng liêng chẳng khác gì tuyên bố về chủ quyền lãnh thổ “Nam quốc sơn hà Nam đế cư” mà Lý Thường Kiệt đọc trên sông Như Nguyệt.

Quyền lực phải được kiểm soát

Theo Hiến pháp, quyền lực cao nhất thuộc về nhân dân, quyền lực của Nhà nước là quyền phái sinh, từ nhân dân mà ra, do nhân dân trao cho. Theo ông sửa Hiến pháp lần này cơ chế kiểm soát quyền lực cần được quy định ra sao và cần nhấn mạnh những yếu tố nào?

Tha hóa quyền lực, lạm dụng quyền lực là điều khó tránh nếu quyền lực không được kiểm soát, cân bằng bởi cơ chế thích hợp. Nguy cơ này trở nên đáng sợ hơn ở những quốc gia đang phát triển, chậm phát triển. Ở Việt Nam cũng vậy, nếu chúng ta đi sâu vào thực tiễn kinh tế, xã hội của đất nước.

Thú thực, đôi khi tôi thấy kỳ lạ là ngay nhiều người làm bảo vệ cũng tìm cách thực thi quyền “cho qua cổng” theo hướng tối đa hóa sức nặng của nó, chưa nói đến cảnh sát giao thông, nhân viên thuế vụ và trên nữa là nhiều quan chức cao cấp.

Với xu thế thích làm quan, thích thể hiện quyền lực như vậy thì lạm dụng, tha hóa quyền lực là đại vấn đề của bộ máy nhà nước và xã hội ta hiện nay.

Quyền lực muốn được kiểm soát trước hết phải được phân định rõ ràng, cơ quan nào thực hiện quyền gì và phạm vi đến đâu, trách nhiệm của các cơ quan quyền lực như thế nào khi có những vi phạm hay có sự trì trệ, tắc trách. Theo tôi, Hiến pháp khó có thể qui định đầy đủ và chi tiết song những điểm sau đây nhất thiết cần phải được hiến định:

Thứ nhất, phải xác định rõ ràng quyền hạn, trách nhiệm của các cơ quan hành pháp, lập pháp và tư pháp và tạo ra được những cơ chế kiểm soát lẫn nhau có hiệu quả giữa các cơ quan này.

Đây là điều kiện tiên quyết cho việc hạn chế tình trạng lạm dụng quyền lực. Khi không được phân công rõ, không phải chịu trách nhiệm thì các cơ quan thực thi quyền lực nhà nước dễ lạm dụng để rồi “khiên và áo giáp” bảo vệ các cơ quan này khỏi trách nhiệm pháp lý sẽ là “lỗi hệ thống”, “ý kiến của tập thể”.

Có mấy ai phải chịu trách nhiệm về những yếu kém, sai lầm trong thực thi quyền lực nhà nước nếu như những việc đó chưa đẩy đến mức trách nhiệm hình sự.

Thứ hai, cần tăng cường sự giám sát thực chất của nhân dân. Sự giám sát của nhân dân, không chỉ là sự thể hiện quyền lực tối thượng của nhân dân mà còn là sự đảm bảo cho quyền lực nhà nước không bị tha hóa.

Hiện tại, việc giám sát của nhân dân được thực hiện qua các tổ chức chính trị và chính trị xã hội là chủ yếu và các tổ chức này thì khó có được ý kiến độc lập thực sự.

Cơ chế giám sát hiện hành còn hình thức và ngay cả việc nhân dân lựa ai thay mặt mình thực hiện quyền lực nhà nước cũng như vậy.

Cần có sự giám sát của nhân dân thông qua các tổ chức phi chính phủ, các tổ chức xã hội với những ý kiến độc lập, mang tính chất phản biện thực sự. Với việc sửa đổi Hiến pháp lần này, hãy để cho nhân dân chọn phương thức giám sát phù hợp với nguyện vọng của mình.

Thứ ba, cần lựa chọn kỹ các thiết chế kiểm soát và cân bằng quyền lực có khả năng phát huy tốt trong điều kiện chính trị xã hội của đất nước. Theo tôi Kiểm toán nhà nước, Ủy ban bầu cử độc lập là những lựa chọn có thể phù hợp. Dĩ nhiên, những thiết chế khác cũng hoàn toàn có thể hiến định nếu phần lớn nhân dân yêu cầu phải có những thiết chế đó.

Cám ơn ông.

Hà Nhân
thực hiện