Người vợ miền Nam của cố Tổng Bí thư Lê Duẩn

Người vợ miền Nam của cố Tổng Bí thư Lê Duẩn
TPCN - Gian phòng khách giản dị của một căn hộ trong khu chung cư Phú Mỹ Hưng. Tấm chân dung của một người đàn ông chụp vào độ đứng tuổi, ánh mắt đang tỏa xuống cái nhìn nghiêm nghị và ấm áp...
Vợ chồng Cố Tổng Bí thư Lê Duẩn (Rừng U Minh, năm 1950)
Vợ chồng Cố Tổng Bí thư Lê Duẩn (Rừng U Minh, năm 1950)

Một thuở một thời tôi đã từng thấy được treo ở vị trí trang trọng tại rất nhiều nơi. Nhưng lúc này, tôi có cảm giác tấm chân dung ấy đã được treo đúng chỗ nhất.

Đơn giản vì ông là chồng của nữ chủ nhân đây! Nhanh nhẹn xởi lởi, ở tuổi tám mươi mấy mà bà còn khỏe.

Tôi gần như là một người gặp may bởi mỗi lúc cứ dần dần xuất hiện rồi thường trực cung cách xởi lởi mặn chuyện của bà...

Phải nói vậy vì buổi đầu gặp, bà cứ lắc đầu rồi cười nhẹ vẻ khiêm nhường: “Chuyện tôi đâu có chi mà mấy chú bận tâm!”.

Bà là cả một kho tư liệu. Chuyện bắt đầu từ một cô gái miền Đông mảnh dẻ dám ra bưng hoạt động cách mạng...

Rồi một cuộc hôn nhân, nói theo cung cách của bà là do anh Sáu Thọ (đồng chí Lê Đức Thọ) làm mai và anh Hai Hùng (đồng chí Phạm Hùng) là chủ hôn, đám cưới ở chiến khu. Chú rể là anh Ba, người Quảng Trị mà sau này là Tổng Bí thư của Đảng ta...

I. Mối tình đầu

Bà đang ngồi trước tôi. Chất giọng khẽ khàng trầm ấm. Bà tâm sự, tánh bà ngang thẳng, từ bé  đã giống y chang cha mình. Ông nội, bà nội đều là những người tính cách mạnh, tiết tháo.

Pháp chặt đầu ông nội vì tội tham gia Cần Vương. Bà nội phải cõng cha bà khi ấy còn bé tí từ Đồng Nai  lên Bình Tây để tránh họa tru di tam tộc.

Bà kiếm sống bằng cách đi quét dọn cho mấy nhà máy xay xát ở Bình Tây vừa có tiền công vừa thu gom gạo đổ, đem về sàng sảy lại để nuôi sống cả nhà.

Ông già lên sáu tuổi đã được đi học trường Tây là cả một sự kiện. Đâu phải học cho mình mà là học thuê! Tây bắt con cai tổng con địa chủ phải đi học tiếng Tây.

Gửi con gái Vũ Anh 3 tháng tuổi cho mẹ ở Sài Gòn
Gửi con gái Vũ Anh 3 tháng tuổi cho mẹ ở Sài Gòn

Thông minh lanh lẹ nên ông được một chủ đất mướn đi học cho con ông ta. Đi học thuê vừa có tiền nuôi bà nội vừa bồi bổ kiến thức. Dần dà ông đậu hạng nhất diplome trường Petrus Ký( nay là trường Lê Hồng Phong).

Ông học giỏi nên được chọn về làm thơ ký 3 năm trong Phủ Toàn quyền. Sau 3 năm Pháp bổ ông già đi làm tri huyện. Ông không ưng. Mặc dù bên ngoại nói, hễ đi làm tri huyện thì gả con gái cho.

Trái ý ông ngoại, nhưng vợ ông một cô gái đẹp con nhà giàu, đã bỏ cả đám cưới lẽ ra sẽ được tổ chức rình rang mà theo không ông già.

Ông già theo nghề viết báo. Ông viết báo giỏi. Chẳng bao lâu ông làm chủ bút tờ Tribune Indigène (Diễn đàn bản xứ) nên cả vùng gọi ông là Ông chủ nhựt trình.

Tính ông ngang, thẳng. Ngoài việc bênh vực quyền lợi của dân nghèo bằng ngòi bút, trong đời sống hễ thấy Tây đi xe ngựa của dân không trả tiền, ông thộp ngực đánh liền.

Ông kịch liệt phản đối chính sách thuộc địa cụ thể là sưu cao thuế nặng bằng cả viết báo lẫn đăng đàn diễn thuyết. Toàn quyền Pháp phải thân chinh gặp ông mua chuộc bằng cách hứa cấp 500 ha đất cho vay vốn để trồng cao su.

Khi đó nhiều người phất lên bằng nghề này. Nhưng ông nói thẳng thà tôi cạp đất mà ăn chớ không khi nào ngửa tay xin tiền!

Ông già sống nghĩa khí. Một bận giắt súng cùng một tốp trai tráng lên tận biên giới Campuchia bắt một bọn chuyên chôm trộm bò của tá điền trong vùng.

Ông nọc tên trùm trưởng quật cho một trận nên thân bắt phải trả lại bò bắt trộm và hứa không bao giờ quấy nhiễu dân lành. Tiếc ông mất sớm khi mới 46 tuổi. Khi ông già mất, nhà cửa sa sút dần.

Tuy vậy bà cũng được theo học hết sơ học. Nhà tranh vách đất nhưng danh tiếng nghĩa khí của ông già vẫn như trước. Bà con rất kính nể. Lính không bao giờ dám xét nhà.

Vậy nên đầu những năm bốn mươi, cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ thất bại, nhiều cán bộ hoạt động ở Nam Kỳ bị kêu án tử hình vắng mặt đã về nhà bà trốn tránh...

Dần dà cô bé Nguyễn Thụy Nga (tên khai sinh của bà) được mấy anh mấy chú giác ngộ cách mạng.Dưới sự dìu dắt của đồng chí Nguyễn Văn Tiếp, Bí thư Tỉnh ủy Mỹ Tho (tên của nhà cách mạng này đã được đặt cho một con kênh lớn trong vùng) cô bé Nga tham gia làm liên lạc vận chuyển tài liệu mật, vũ khí từ Sài Gòn đi Mỹ Tho, Tân An và ngược lại.

Nhiều bận suýt bị bắt nhưng may nhờ lanh lẹ thông minh, lại biết dùng tiếng Pháp (nhiều lần sắm vai con nhà giàu ăn mặc bảnh đi trên xe lửa toa hạng nhất hoặc xe nhà binh với sĩ quan Pháp) nên thoát.

Năm 16 tuổi, cô bé Thụy Nga đã trổ mã con gái được nhiều đám để mắt tới. Má và người nhà  nhắm nhe cho mấy đám khá giả nhưng cô đều từ chối.

Nhưng nhịp đập trái tim tuổi hoa niên ấy đã bao phen không bình thường vì một người! Đó là một cán bộ hoạt động bí mật từng bị kêu án tử hình đang bí mật ở ngay trong nhà Nga, thường xuyên được Nga dẫn đường cũng như trao các tài liệu mật.

Chất giọng bà đượm chút bồi hồi khi nhắc đến cái thuở vời xa ấy. Cứ hằng đêm Nga chờ người ấy về để mở cửa đóng cửa vì công tác bí mật.Một đêm, lối 2 giờ sáng,Nga vừa mở cửa, người ấy bước qua ngưỡng đã quàng tay ôm sát Nga. Người Nga run bắn lên.

Lần đầu tiên Nga biết thế nào là yêu. Rồi sau đó  người ấy chuyển vùng hoạt động lên Vũng Tàu, Đà Lạt nhưng thường xuyên thư từ cho Nga. Người ấy viết một chữ nguyệt và bảo Nga dùng những chữ đầu làm thành một bài thơ tặng người ấy. Cô bé 17 tuổi đó đã viết 6 dòng như thế này:

Nay anh cất bước ra đi
Giang hồ rạng mặt khách tu my
U uẩn nỗi lòng không dám tỏ
Yêu mà lặng lẽ tiễn nhau đi
Êm đềm dừng bước anh ngoảnh lại
Thôi đừng bịn rịn phút chia ly

Nghe chất giọng hơi run run khi bà nhẩm lại, tôi hơi sửng sốt chưa hẳn vì bà vẫn rành rẽ kỷ niệm mối tình đầu hơn sáu mươi năm trước mà như bà bình thản cho hay rằng người ấy khi ấy đã có vợ có con. Bà biết hết nhưng vẫn yêu!

Mối tình đầu ấy rồi chẳng đi đến đâu... Nhưng là niềm động viên khích lệ bà trong những tháng ngày hoạt động cơ cực gian nan.Kỷ niệm đẹp cũng lắm. Kỷ niệm thương tâm lại càng nhiều...

Trong tổ điệp báo của bà những ngày đầu khởi nghĩa năm 1945, có một cô nữ sinh trung học rất đẹp thông thạo tiếng Pháp. Cô có nhiệm vụ móc nối với một tên đồn trưởng người Pháp để du kích ta diệt đồn.

Nhiệm vụ gần hoàn thành cũng là lúc cô yêu viên đồn trưởng người Pháp đẹp trai. Nhiệm vụ sau chót của cô là phải dùng khẩu súng lục viên đồn trưởng để dưới gối để bắn nó.

Cô gái khóc ròng ra tín hiệu cho bộ đội vô diệt đồn thì được chớ cô không bao giờ cầm khẩu súng ấy lên! Trận công đồn thắng lợi. Viên đồn trưởng bị diệt.

Cô điệp báo ấy cũng bỏ đi biệt xứ! Một cô khác trong tổ tên Thảo. Cũng xinh xắn cũng thạo tiếng Tây như cô nọ. Cũng giao nhiệm vụ y chang. Nhưng Thảo khác. Cô khóc ròng khi cho bạn hay, một bận tên đồn trưởng đã ôm lấy cô mà hôn.

Khi Thảo bất ngờ bị bắt, cả tổ điệp báo tá hỏa bởi ý nghĩ mới bị nó hôn còn suy sụp cỡ đó thì làm sao Thảo chịu được những đòn tra tệ hại của kẻ thù?

Vậy nên anh em vội vã sơ tán hết. Nhưng Thảo đã chịu đủ cực hình và quyết không khai rồi cuối cùng bị bọn giặc tẩm dầu đốt đến thành mù mắt tay chân còng queo!

Mối tình đầu của Thụy Nga với người ấy chỉ đặt dấu chấm hết cho đến năm năm mươi, khi cô về Cần Thơ công tác và gặp Anh Ba.

II. Đám cưới  giữa Rừng U Minh

Lại những ngày gian nan với trách nhiệm tỉnh ủy viên, Đoàn trưởng phụ nữ Cứu Quốc tỉnh Bạc Liêu rồi Cần Thơ.

Nghe chất giọng đều đều bình thản của bà mà tôi hơi gai gai bởi tưởng tượng ra cái cảnh những cán bộ phụ nữ Nam Bộ phải bươn chải trong điều kiện nhà đạp nhà đá (những căn nhà dựng tạm bợ bằng lá bằng mảnh nilon khi di chuyển đi không ở thì đạp thì đá đi).

Gặp địch càn gặp giặc lùng nhịn đói đã đành. Muỗi đỉa nhung nhúc nằm nóp quanh năm thì khổ biết chừng nào. Thử tưởng tượng cô gái Thụy Nga khi ấy mới hơn hai mươi, đã phải dầm nước mặn rồi nằm phơi nắng dài dài cho da đỡ trắng để ra chợ hoạt động công khai.

Còn ở chiến khu thì  có thời gian suốt  năm trời chỉ độc một cái quần đen. Muốn giặt phơi thì phải ra chỗ vắng mà giặt rồi phơi. Trong lúc đợi khô, phải quấn cái khăn rằn không dám gặp ai hết.

Đó là những ngày nắng ráo. Trời mưa dầm dề suốt tháng còn cực tới cỡ nào! Khi Thụy Nga về miền Tây công tác thì đã xảy ra một sự kiện: Chuyện yêu đương của Thụy Nga với người cán bộ hoạt động bí mật ấy đã bị lộ.

Tỉnh ủy họp yêu cầu cô báo cáo và sau đó quyết định chuyển cô về Sài Gòn công tác để cắt đứt mối quan hệ đó!

Cũng chính vào thời điểm này, đồng chí Lê Duẩn với danh nghĩa là Bí thư Xứ ủy Nam Kỳ từ Đồng Tháp Mười xuống dự Hội nghị Tỉnh ủy đã nghe được câu chuyện tình éo le của Thụy Nga.

Nhưng như bà đã bộc bạch trong những dòng nhật ký (tôi thầm mong rằng đây sẽ là những tư liệu quý để manh nha cho một cuốn hồi ký dầy dặn và giá trị sau này của bà):

Lạ là anh Ba hổng nói chi ráo trọi... Sáng hôm sau, Tỉnh ủy tổ chức cho đồng chí ăn sáng có một mình, có cháo gà và hai hột gà luộc. Lúc đó ăn vậy là sang lắm rồi.

Tôi đến với nhiệm vụ là kiểm tra bữa ăn của đồng chí xem có thiếu gì không? Đồng chí đang ăn thấy tôi bước vào thì kêu người phục vụ lấy thêm chén đũa và kêu tôi cùng ăn. Có hai trứng gà đồng chí cũng chia tôi một cái.

Trong khi ngồi ăn, đồng chí hỏi tôi về việc xử lý của Tỉnh ủy và hỏi tôi nghĩ sao?

Tôi thẳng thắn “ Được phân công công tác ở Sài Gòn đối với tôi là công tác mới và khó nguy hiểm nữa nhưng tôi vui vẻ chấp nhận, không băn khoăn gì. Nhưng bảo tôi thôi người yêu mà mình đã yêu thì tôi khó làm được. Xa nhau cũng được nhưng yêu là do trái tim, đừng bắt buộc như vậy...’’.

Anh Ba nghe tôi nói vậy không nói gì... Nhưng hôm sau nghe đồng chí Lê Đức Thọ nói lại là anh Ba có nói mấy chị Nam Bộ có giới thiệu cho anh ấy mấy người nhưng ảnh không ưng. Nếu có lấy vợ thì thì ảnh thích người có tình nghĩa thủy chung như chị Nga...

Một thời gian sau, anh Sáu Thọ xuống Cần Thơ công tác, anh gặp tôi nói: “ Anh Ba muốn hỏi chị làm vợ. Chị nên ưng anh ấy đi. Anh xa nhà đã 20 năm không có tin tức gì của gia đình. Gia đình anh ấy còn ở vùng địch.

Nếu chị làm vợ anh ấy, chị chăm sóc anh ấy để anh có sức khỏe làm việc đó cũng là một nhiệm vụ. Anh ấy hiện nay trong lãnh đạo, anh rất thông minh và sáng suốt.

Anh em thường gọi anh là 200 Bougies (200 nến). Khi có người kề cận chăm sóc thì anh sẽ trở thành 400 Bougies... Sự sáng suốt của anh ấy có lợi cho cách mạng tới chừng nào”.

Nghe anh Sáu Thọ nói tôi chưng hửng. Vì trong lòng tôi lúc nào anh cũng là một lãnh tụ mà mọi người kính yêu. Tôi cũng vậy. Lúc nào tôi cũng ghi chép đồng chí Lê Duẩn nói thế này, đồng chí Lê Duẩn nói thế kia...’’ vv... Thứ hai là chuyện tình cảm của tôi với một người, anh ấy đã biết rất rõ qua Hội nghị của Tỉnh ủy.

Tại sao anh lại đặt vấn đề với tôi? Tôi suy nghĩ mãi và quyết định gặp lại anh và muốn thổ lộ hết băn khoăn của mình... Nhưng tôi ngại gặp quá. Một lần tôi lấy hết can đảm hỏi anh “ Nếu bây giờ anh lấy vợ, sau này về gặp lại gia đình, phải giải quyết ra sao đây?”. Anh thẳng thắn “ Anh cưới vợ trước kia là do cha mẹ cưới cho…

Tôi suy nghĩ rất dữ, bởi vì tình yêu của tôi từ năm 16 tuổi với một đồng chí có vợ có con nên chúng tôi đã khổ quá rồi. Nếu bây giờ còn ưng người có vợ có con nữa thì sẽ ra sao đây?

Vả lại mối tình đầu còn nhức nhối trong tim tôi làm sao gỡ ra được để tìm tình yêu của người khác? Nhưng những lời của anh Sáu Thọ nói làm tôi phải suy nghĩ mãi.

Tôi lại gặp anh hai lần nữa. Mỗi lần như vậy lại gây cho tôi những ấn tượng mới. Anh mặc quần rách đít, áo rách cùi chỏ. Người anh lúc nào cũng 47 ký nhưng vì cao nên anh khô quắt khô queo. áo quần nhuốm màu phèn Đồng Tháp Mười.

Sinh hoạt của anh làm tôi xúc động. Những người như ông Phạm Văn Bạch, Phạm Ngọc Thuần. Lê Thành Vĩnh... trong ủy ban kháng chiến hành chánh Nam Bộ người nào cũng có nhà cửa, có người bảo vệ, người nấu bếp tuy ở nhà lá nhưng cũng đàng hoàng.

Còn anh chỉ có chiếc tam bản bốn chèo đi với hai đồng chí thư ký và bảo vệ. Đến cơ quan nào, đến nhà bà má nào thì anh em lên nhà ngủ, còn anh thì ngủ dưới ghe.

Anh nhường nhịn mọi điều kiện tốt cho mọi người. Con người anh bao giờ cũng thoải mái vị tha... Có lần tôi đi ghe nước ngược, vừa bị cạn vừa trời nắng chang chang.

Anh cùng anh em người đi hai bên bờ kéo, người lội dưới bùn đẩy ghe, tôi ngồi trong ghe mà mồ hôi còn vã như tắm. Ghe nhích từng chút, từng chút một. Trông anh em thật tội nghiệp. Tôi nghĩ, những người này ăn ở có tình nghĩa với nhau dám hy sinh cho nhau...

Có những lần anh nói chuyện với tôi về phụ nữ về bà mẹ của anh. Tôi nhận thấy vẻ bề ngoài của anh như ông đồ nho, nhưng tình cảm của anh thì rất đặc biệt.

Anh nhắc nhiều đến mẹ anh. Tôi hình dung mẹ anh là người nhân hậu hay giúp đỡ mọi người, thường nấu cao dán mụn nhọt theo toa gia truyền. Cả làng đều nhờ bà.

Bà được mọi người thương yêu kính trọng. Khi anh làm cách mạng, nhà rất nghèo. Cụ ông làm nghề thợ mộc. Mẹ anh để dành từng củ khoai lang, chờ anh về luộc cho mà ăn. Khi anh ra đi, bố anh khóc nhưng mẹ anh lại rắn rỏi động viên anh, tuy bà chỉ có mình anh là con trai.

Anh chỉ còn một người chị và một cô em gái. Lúc anh bị giặc bắt cầm tù, thư anh gửi về mẹ anh nhờ hàng xóm đọc cho nghe nhiều lần, xong bà may cái túi nhỏ xếp thư vào túi khâu lại và mang trên cần cổ như người mang bùa vậy.

Khi mẹ anh chết, anh không về được nhưng người nhà nói lại là thư anh vẫn đeo trên cổ mẹ. Những chuyện anh kể làm tôi vô cùng xúc động. Tình cảm của anh sao mà sâu đậm làm vậy.

Lòng tôi đã quyết. Sau đó tôi gặp lại người yêu cũ. Tôi nói với anh “Chúng ta yêu nhau hơn 11 năm rồi. Nhưng vì anh còn gánh nặng gia đình, chúng ta khó kết hợp được. Nay các anh làm mai cho anh Ba, anh nghĩ sao?’’

Anh nói anh rất buồn nhưng đành chia tay nhau vậy thôi...

Đám cưới tổ chức vào sau dịp phụ nữ Nam Bộ mở Hội nghị toàn Nam Bộ tại Văn phòng Trung ương Cục đóng ở miền Tây. Đồng chí Lê Đức Thọ làm ông mai. Đồng chí Phạm Hùng làm chủ hôn.

Có lẽ  là lần đầu, tôi nghe một người nói, đồng chí Lê Duẩn có làm thơ. Người ấy chính là bà. Thơ đồng chí Lê Duẩn đọc tặng bà trong đám cưới năm 1948 ấy như thế này:

Hỡi cô con gái Đồng Nai
Năm nay là mấy năm rồi cô yêu?
Hôm qua gió lạnh đìu hiu
Lòng cô man mác trăm chiều nhớ 
                                            thương
Hôm nay trời tạnh mây quang
Gió xuân đầm ấm mùi hương đậm
                                              đà
Tự tình ta lại với ta
Say sưa bao xiết là ta với mình
Cho hay là giống hữu tình
Đố ai cắt được tơ mành làm đôi

Bà cũng cắt nghĩa tôi hay rằng, bài thơ đó tác giả có nhắc lại mối tình cũ của bà mà những người dự đám cưới ai cũng biết và không quên khẳng định tình yêu của hai người trong tương lai!

Giọng bà khẽ khàng mơ hồ như vọng về từ những năm tháng xa xăm ấy rằng hai người đã gặp nhau từ hai thái cực rất khác nhau nhưng sống với nhau rất hòa thuận đầm ấm.

Người vợ mới miền Nam chăm lo cho anh Ba từng miếng ăn miếng uống. May quần áo cho anh Ba vừa vặn bằng tơ tằm đen. Chả biết khi nào thì anh Ba trở thành 400 Bougies nhưng trông anh tươi tắn khỏe mạnh ăn mặc đàng hoàng.

Người vợ trẻ xét thấy ưng anh là đúng vì càng ở với nhau lâu càng biết giá trị tình cảm của người chồng. Có vô số những cử chỉ làm chị khó quên. Khi anh đi họp ở đâu về, anh ôm chầm lấy chị, đôi mắt anh sáng ra cười hết cỡ với hàm răng đều tắp có cái răng khểnh bên phải.

Có lần hai vợ chồng cùng tắm, cù nhau cười râm ran cả một quãng suối. Mặt anh có lần tái xanh vì lo cho vợ khi nghe vợ nói cho hay mấy đêm anh đi họp vắng, có cọp rình ngoài cửa...

Khi có mang con gái đầu lòng Vũ Anh, chị chỉ mới nhắc trong giấc mơ thèm xoài mà ban ngày anh đi lùng cho bằng được... Người vợ mới ngoan hiền dịu dàng nhưng cái gì chưa chịu là cãi.

Nhưng mọi cuộc tranh luận đều thu xếp êm thấm bởi lòng vị tha nhân ái và trí tuệ mẫn tiệp của anh. Vừa là đồng chí vừa là vợ chồng nên những tháng năm đó thật ngọt ngào, phong phú...

(Còn tiếp)

Cùng chuyên mục

Anh Lưu Quang Hà bên sản phẩm bê tông nghệ thuật của Công ty

'Chúa chổm' xứ Tuyên đúc nên cơ nghiệp

TP - Lưu Quang Hà vừa rời giảng đường đại học, bước chân khởi nghiệp liền bị quỵt tiền, phải vay nặng lãi để sống. Ở nhà, bố mắc ung thư phổi, gia đình khánh kiệt, khiến anh Hà nhiều đêm bật khóc. Nhưng rồi, anh đứng dậy, gây dựng công ty chuyên làm sản phẩm bê tông nghệ thuật – ngành nghề mà anh được học, doanh thu tiền tỷ, tạo việc làm cho gần 20 lao động. Anh còn là Bí thư Chi đoàn ở tổ dân phố.

Công an cơ sở tuyên truyền, vận động người dân xóa bỏ hủ tục nghi kỵ “cầm đồ thuốc độc” Ảnh: NN

'Bóng ma đồ độc' ám ảnh vùng cao Quảng Ngãi

TP - Ở một số bản làng miền núi Quảng Ngãi, hủ tục nghi kỵ “cầm đồ thuốc độc” vẫn âm ỉ tồn tại, len vào những mâu thuẫn đời thường, những cơn bệnh chưa được lý giải bằng khoa học. Từ một lời phán của thầy cúng, hàng xóm có thể thành kẻ thù, người vô tội bị cô lập, đánh đập, thậm chí mất mạng.

Cán bộ Trạm Y tế xã Buôn Đôn đi bộ đến từng hộ dân tại buôn Đrăng Phốk để tiêm vắc xin cho trẻ

'Cõng' vắc xin tìm trẻ giữa đại ngàn

TP - Không để người dân vất vả đưa con đến trạm y tế, vào ngày 16 hằng tháng, cán bộ y tế xã vùng xa tỉnh Đắk Lắk vượt hơn 20km đường rừng đều đặn mang vắc xin vào tận buôn. Chuyến đi của họ đã mang thêm một lớp bảo vệ đến với những đứa trẻ nơi vùng lõi rừng, từng ngày rút ngắn giữa dịch vụ y tế và người dân.

Giếng cổ được người dân tự hào giới thiệu với khách đến thăm đảo

Bí ẩn giếng cổ ở xã đảo Đà Nẵng

TP - Giữa vùng biển đảo quanh năm nắng gió, nơi từng giọt nước ngọt quý hơn vàng, hai giếng cổ dưới chân núi Bàn Than ở Tam Hải vẫn trong veo, mát lành qua hàng trăm năm.

Cựu chiến binh Nguyễn Duy Kháng và cô giáo HươngẢnh: Lê Văn Chương

Những người lính ở lại núi Dàng-Bài cuối: Trái tim cô giáo trẻ dành trọn tiếng "tít te"

TP - Tháng 2/1970, bên dòng sông Vệ (Hành Thịnh, Quảng Ngãi), những chiếc HU-1A còn gọi là tàu rọ liên tục quần đảo, gầm rít trên bầu trời. Giữa khói lửa chiến tranh, trái tim một cô giáo trẻ lại bị cuốn vào âm thanh “tít te” không ngừng của một cậu lính thông tin quê Thái Bình. “Cái này bí mật, không thể giải thích” – chàng lính Nguyễn Duy Kháng mỉm cười nói với cô giáo Nguyễn Thị Thanh Hương về công việc của mình.

Cựu chiến binh Lại Vũ Yên và bà Nguyễn Thị Bè, mối tình và đám cưới trong chiến tranh, giờ đây đã hơn 50 năm Ảnh: Lê Văn Chương

Những người lính ở lại núi Dàng-Bài 2: Mối tình người lính quân y và nữ du kích

TP - Trước năm 1975, địch xem xã Hành Thịnh là một trong những cái gai rất khó nhổ. Bởi đây là một xã đồng bằng của Quảng Ngãi nhưng lại có rất nhiều ngọn núi: núi Dàng, núi Đuôi Chuột, núi Rố, núi Gò Đồn, núi và rừng Ông Đương, gò Rú. Địa thế hiểm trở vốn là lợi thế của quân giải phóng và là vùng đất chết đối với quân đội chính quyền Sài Gòn. Y sĩ Lại Vũ Yên đã trải qua những ngày gian nan tại đây, sau đó kết hôn với cô du kích…

 Ông Trương Minh Hải, Tổ trưởng Tổ cộng đồng bảo vệ nguồn lợi thủy sản phường Hồng Ngự chăm sóc đàn cá tự nhiên Ảnh: Hoà Hội

'Ngôi nhà' của đàn cá trên sông Tiền

TP - Xuất phát từ ý tưởng giữ cá lại với dòng sông, người dân vùng đầu nguồn Hồng Ngự (Đồng Tháp) đã biến đoạn bờ kè bình dị thành “bến đỗ an toàn” của đàn cá hàng nghìn con. Cá được cho ăn, bảo vệ và sinh trưởng tự nhiên. Mô hình độc đáo này không chỉ góp phần bảo vệ nguồn lợi thủy sản mà còn đánh thức tình yêu thiên nhiên trong cộng đồng.

Chiến dịch 500 ngày đêm đang được tổ chức tại nghĩa trang liệt sĩ Hành Thịnh, xã Đình Cương. Trong số các liệt sĩ nằm lại, có nhiều người là đồng đội của vợ chồng ông Tân Ảnh: Lê Văn Chương

Những người lính ở lại núi Dàng: Mối tình lính DKB và cô y tá

TP - Cách đây hơn nửa thế kỷ, khi đất nước hòa bình, hầu hết những người lính gác lại súng gươm để trở về với quê nhà, mang theo ký ức của một thời hoa lửa. Thế nhưng, tại xã Hành Thịnh (nay là xã Đình Cương) nằm dưới chân núi Dàng- vùng căn cứ cách mạng của Quảng Ngãi, vẫn có những người lính ở lại. Đầu tháng 9 này, họ đang lặng lẽ dõi theo từng nhát cuốc của Đội tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ đang thực hiện Chiến dịch 500 ngày đêm.

Phiên chợ Sâm Ngọc Linh và dược liệu được tổ chức đều đặn mỗi tháng ở phố du lịch sầm uất của Đà Nẵng Ảnh: Giang Thanh

Quà quê kể chuyện Đà Nẵng

TP - Một tấm chiếu cói kể chuyện làng nghề, chai tinh dầu kể chuyện vùng dược liệu hay món đặc sản kể chuyện miền quê. Khi những món “quà quê” được đặt trong không gian trải nghiệm du lịch, câu chuyện về Đà Nẵng có cơ hội chạm vào du khách và theo họ đi xa hơn.

Gom rác đổi cháo sáng

Gom rác đổi cháo sáng

TPO - Từ những chai nhựa, vỏ lon, giấy vụn được gom lại từ mỗi gia đình, người dân xã Nghĩa Giang (tỉnh Quảng Ngãi) có thể đổi lấy cháo nóng. Những thứ từng bị xem là rác bỏ đi đang được biến thành nguồn quỹ để sẻ chia với người khó khăn.

Khát vọng hồi sinh nghề xưa của người trẻ Quảng Ngãi

Khát vọng hồi sinh nghề xưa của người trẻ Quảng Ngãi

TP - Từ những luống dâu ven sông Trà Khúc đến lò mật mía đỏ lửa, nhiều người trẻ ở Quảng Ngãi đang tìm cách đưa nghề truyền thống trở lại đời sống bằng tư duy mới. Không chỉ giữ nghề của cha ông, họ còn từng bước biến những giá trị văn hóa thành sản phẩm hàng hóa, tạo sinh kế và mở ra hướng phát triển mới cho quê hương.

Cồn Thanh Long trước lựa chọn nghiệt ngã: Giữ cồn hay đưa dân vào bờ?

Cồn Thanh Long trước lựa chọn nghiệt ngã: Giữ cồn hay đưa dân vào bờ?

TPO - Từ câu chuyện chực chờ bị ‘xóa sổ’ của cồn Thanh Long ở Vĩnh Long do sạt lở đã ngoài tầm kiểm soát, cho thấy giải pháp chống sạt lở cho vùng Đồng bằng sông Cửu Long đang trở nên cấp bách, tốn kém. Đặc biệt, việc giảm khai thác cát sông đang ngày càng cần thiết để giảm sạt lở, xâm thực đất đai trù phú của vùng đồng bằng này.

Concert Thanh xuân thu hút khoảng 2 vạn bạn trẻ Ảnh: Như Ý

Chạm vào kí ức

TP - Vệt nắng chiều lóa trên những huân chương của cha nơi bức tường cũ, bừng lên trong tôi màu bất diệt của thanh xuân - sự tận hiến mãi mãi tuổi đôi mươi mà thời gian là kẻ đứng rìa. Và đêm nay, giữa sóng cuộn của tuổi trẻ, một lần nữa tôi cúi đầu tri ân. Đó là giai điệu giao hòa mang tên tình yêu Tổ quốc trong đêm Thanh xuân…

Mùa sạt lở bên dòng Cửa Lớn

Mùa sạt lở bên dòng Cửa Lớn

TPO - Mỗi mùa mưa, lũ về, những hộ dân sống ven sông Cửa Lớn, đoạn qua xã Đất Mới, tỉnh Cà Mau lại phải sống thấp thỏm với sạt lở. Có căn nhà bị “hà bá” nuốt trọn chỉ trong một đêm, có con đường bị dòng nước ngoạm mất, người dân phải tự tháo dỡ nhà, dựng cầu tạm để có lối đi.

Huyền thoại võ sáo dưới bóng trăng Phồn Xương

Huyền thoại võ sáo dưới bóng trăng Phồn Xương

TP - Dưới bóng trăng Phồn Xương, tiếng sáo sắt “Thiết địch thần phong” từng gắn với những năm tháng khởi nghĩa Yên Thế (tỉnh Bắc Ninh), nay đang được đánh thức, đưa võ sáo từ ký ức lịch sử trở thành di sản phát triển du lịch.