Sửa Quốc ca: Ngó người... ngẫm ta

Sửa Quốc ca: Ngó người... ngẫm ta
TP - Hiếm hoi nhưng tại diễn đàn ở nghị trường kỳ họp thứ năm Quốc hội khóa 13 đã cất lên tiếng nói của một số đại biểu Quốc hội (ĐBQH) rằng nên sửa và thay phần lời Quốc ca?!

> Quốc ca: 'Văn Cao có sửa thì sửa'
> Đại biểu QH đề xuất sửa lời Quốc ca

Ngó người...

Những trang tài liệu mật thời chế độ Xô Viết cũng dần dà được giải... Vậy nên hậu thế mới biết, thập kỷ những năm 1950 ấy từng có chuyện người ta muốn thay đổi quốc ca Liên Xô!

Nhạc sĩ Văn Cao (phải) và Đại tướng Võ Nguyên Giáp Ảnh tư liệu
Nhạc sĩ Văn Cao (phải) và Đại tướng Võ Nguyên Giáp Ảnh tư liệu.

Quốc ca của Liên Xô (từ năm 1944), được đích thân Đại nguyên soái Xtalin duyệt với phần lời của Sergey Mikhalkov và Gabriel El-Registan, âm nhạc của Alexander Alexandrov.

Tháng 12/1955 Liên Xô đã bí mật tổ chức cuộc thi sáng tác quốc ca mới. Nói là bí mật là bởi khi đó người ta chỉ tổ chức cuộc thi nội bộ, với sự tham gia của 67 tác giả… Chuyện thì dài, nhưng đại để có thể tóm lược: Riêng phần lời lọt vào vòng hai có 11 lời quốc ca mới. Vào chung kết có 3 phần lời của các tác giả M.Isakovski, S.Mikhalkov và M.Rylskii. Nhưng không hiểu vì lý do gì, loay hoay mãi ban tổ chức vẫn không tìm ra phần lời nào khả dĩ thay được những ca từ - những con chữ như có lửa của nhà thơ Liên Xô S.Mikhalkov đặt. Vậy nên quốc ca Liên Xô vẫn tiếp tục “sống sót”.

Chuyện không kết thúc ở đây. Bốn năm sau, vào năm 1959, một cuộc thi quốc ca tương tự lại được tổ chức! Nhưng cũng lai rai lẫn loay hoay như lần trước, cuộc thi khởi đầu cũng rầm rộ nhưng sau đó dần dần rơi vào quên lãng.

Văn Cao tóc xõa, nhỏ thó, thanh mảnh buồn bã tay rượu run run... Cơ thể ông như một búi những xoắn bện chẳng dễ gì giải mã... Ông đưa ra một tờ báo ố vàng. Tờ Nhân Dân ngày 19/8/1981. Chỉ vào bài ở góc trang 2 bài viết mà ông là tác giả - Cảm xúc Quốc ca.

Vẫn chưa hết, chuẩn bị cho Đại lễ kỷ niệm 60 Cách mạng Tháng Mười Nga, trên các báo lớn Xô Viết trang trọng đăng thông báo quyết định của Suslov tại kỳ họp của Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô tháng 5/1977, rằng, để chuẩn bị cho Lễ kỷ niệm 60 năm Cách mạng Tháng Mười, sẽ tổ chức trọng thể cuộc thi Quốc ca Liên Xô mới.

Những thủ tục cần thiết đã hoàn tất... Nhưng không lâu sau cũng chính ông Suslov, trong một cuộc họp quan trọng đã đề nghị giữ nguyên Quốc ca cũ.

Sau khi Liên Xô tan rã năm 1991, nước Nga đã có một thời gian dài sử dụng một bài của Mikhail Glinka làm quốc ca, nhưng chỉ có nhạc mà không có lời. Năm 2000, sau khi lên nắm quyền, Tổng thống V.Putin đã cho khôi phục lại phần nhạc Quốc ca Liên Xô và yêu cầu tác giả phần lời năm xưa, nhà thơ Sergey Mikhalkov viết lại lời mới để làm Quốc ca của Liên bang Nga.

Và như thế giai điệu của bản Quốc ca ra đời từ trong máu lửa của cuộc Chiến tranh Vệ quốc năm nào lại vang lên hùng tráng, như đã từng vang lên như thế suốt bảy chục năm qua.

Và gẫm đến ta

Các tờ báo lớn sau thời điểm kết thúc cuộc bầu cử Quốc hội khóa VII ra ngày 28/4/1981 đồng loạt đăng thông báo cuộc thi sáng tác Quốc ca mới với lý do: Theo quyết định của Quốc hội, nước ta cần có bản Quốc ca mới cho phù hợp với tình hình cách mạng Việt Nam đã chuyển sang giai đoạn mới.

Thông báo cũng đăng thể lệ cuộc thi cùng Hội đồng giám khảo (HĐGK). Theo đó Hội đồng giám khảo có nhiệm vụ giúp Quốc hội lựa chọn một số bài xuất sắc trình Quốc hội để Quốc hội quyết định lấy một bài làm Quốc ca.

Để ý trong HĐGK có các yếu nhân như nhà thơ Huy Cận, Thứ trưởng Bộ VHTT (Chủ tịch HĐGK); Phó Chủ tịch là nhạc sĩ Lưu Hữu Phước (khi đó là Chủ nhiệm UBVHGD của Quốc hội). Các ủy viên như nhạc sĩ Nguyễn Xuân Khoát, nhạc sĩ Đỗ Nhuận, nhạc sĩ Trần Hoàn, nhạc sĩ Huy Du, nhạc sĩ Phan Huỳnh Điểu, nhà văn Nguyễn Đình Thi...

Cuộc thi được mở rộng cho mọi công dân Việt Nam và chỉ xét những bài hát viết sau năm 1975.

Từ 19/5 đến 19/12/1981, Ban giám khảo (BGK) Cuộc thi Quốc ca mới đã nhận được 1.420 tác phẩm của 1.181 tác giả. Trong số này, chỉ có 625 tác phẩm với cả nhạc và lời, còn lại là thơ. (Tôi chợt nhớ, thời điểm ấy, theo chân mấy anh bạn làm văn nghệ cũng có đáo qua Ban Tổ chức cuộc thi mấy lần.

Ngạc nhiên khi được biết, có rất nhiều bài dự thi - có lẽ do phổ cập là mọi công dân đều có quyền tham gia và có lẽ do hăng hái nữa- đã gửi đến BTC, ngoài thơ và những bài na ná như xã luận, còn có nhiều bài với những dòng viết tháu đại loại tò te tí tò te tí te... Nhưng có nhiều việc cảm động, có cụ già gửi hàng chục bài thơ để “nói hết tấm lòng với Tổ quốc”; có những cặp vợ chồng, vợ viết nhạc, chồng viết lời ca để dự thi).

Trong số các tác giả dự thi, có 173 người là nhạc sĩ được đào tạo chuyên nghiệp. 74 tác phẩm được chọn qua vòng một. Sau gần 7 tháng làm việc nghiêm túc, thận trọng, bộ phận thường trực Hội đồng giám khảo đã sơ tuyển vòng I được 74 bài của 74 tác giả (58 tác giả soạn nhạc chuyên nghiệp và 16 tác giả soạn nhạc không chuyên, trong đó có một nữ giáo viên dạy văn cấp III và chồng là giáo viên dạy toán cùng trường, cùng làm chung nhạc và lời; có một sĩ quan công an, hai sĩ quan quân đội, một vụ trưởng của Ủy ban Kế hoạch Nhà nước, một linh mục...).

Khỏi nói ở đây thái độ nghiêm túc và lao động hết sức công phu của BGK. Tỷ như ở vòng I, các ủy viên Hội đồng giám khảo là nhạc sĩ, sau khi đọc kỹ lời ca, còn xướng âm giai điệu nhạc vài ba lượt rồi hát lời ca theo đúng giai điệu, đánh đàn để nghe riêng giai điệu.

Như vậy, trung bình mỗi bài được đọc lời ca, đàn, hát tất cả khoảng từ 8 đến 10 lượt, có trường hợp tới 15, 20 lượt. Sau đó, các ủy viên ghi nhận xét riêng, cân nhắc kỹ, rồi ghi dự kiến bỏ phiếu cho từng bài và chuyển cho Ban thư ký. Ban thư ký tập hợp các dự kiến, chuẩn bị nội dung cho các cuộc họp chấm thi tập thể của toàn bộ phận thường trực Hội đồng giám khảo.

Sau vòng hai, danh sách giảm còn 17 bài và được hoà âm, dàn dựng, thu âm ở ba dạng: đơn ca, tác phẩm nhạc không lời và cuối cùng là đồng ca với dàn nhạc. Bây giờ cũng xin bật mí, nhạc sĩ tài danh tác giả của Khúc hát sông quê Nguyễn Trọng Tạo trong cuộc thi đã có ca khúc Ngợi ca đất nước xếp thứ 14 trong số 17 ca khúc dự thi. Đặc biệt cũng có 3 tác phẩm dự thi phổ thơ Xuân Thủy (khi đó cụ Xuân Thủy đương là Phó Chủ tịch Quốc hội).

Sau đó, những bài hát này đều được thể hiện trước Quốc hội và được in trên sáu tờ báo và tạp chí, và được phát trên đài phát thanh cho công chúng nghe.

Cũng cần nói thêm, có một vướng mắc khi đó, nhưng rồi cũng được thu xếp ổn thỏa. Đó là 6 trong số 17 bài vào chung khảo là của những người tham gia việc xét duyệt Quốc ca. Để khắc phục những nghi ngờ thắc mắc, BTC đã có sáng kiến là những thành viên HĐGK có tác phẩm sẽ ra khỏi phòng chấm khi tác phẩm của họ được xét đến. Và nữa, không có quyền bỏ phiếu cho tác phẩm của chính mình.

Mười bảy nhạc phẩm xuất sắc đã được chọn lựa và liên tục được phát trên làn sóng điện của Đài Tiếng nói Việt Nam để nhân dân thưởng thức cùng chọn lựa. Một thời gian sau, 5 ca khúc được chọn để Quốc hội bầu chọn lấy một bài.

Quy mô, chu đáo, cẩn trọng là thế, nhưng như mọi người đều biết, tính đến thời điểm này, 32 năm đã qua đi mà tịnh chưa thấy có ca khúc nào trong 5 nhạc phẩm ấy được ấn hành lại hay diễn tấu cả (!?). Cuộc thi sáng tác Quốc ca mới dần lui vào dĩ vãng cùng quên lãng...

Rốt cuộc người ta lại giật mình nhớ đến Văn Cao. Và 11 năm sau, năm 1992, Hiến pháp Việt Nam đã phê chuẩn “Quốc ca của nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam là nhạc và lời của bài Tiến quân ca.

...Nhạc sĩ tài danh Văn Cao đang ngồi đây. Ấy là tôi đương nhớ lại, mùa thu năm 1991, trên căn gác phố Yết Kiêu, được ngồi lâu lâu với nhạc sĩ Văn Cao bên ly rượu trắng để thực hiện loạt bài viết mà dư luận khi ấy đương ì xèo Tiến Quân Ca có hai tác giả? trên tờ Tiền Phong Chủ nhật khổ nhỏ hồi đó.

Văn Cao tóc xõa, nhỏ thó, thanh mảnh buồn bã tay rượu run run... Cơ thể ông như một búi những xoắn bện chẳng dễ gì giải mã... Ông đưa ra một tờ báo ố vàng. Tờ Nhân Dân ngày 19/8/1981. Chỉ vào bài ở góc trang 2 bài viết mà ông là tác giả Cảm xúc Quốc ca.

Ông bộc bạch bằng chất giọng nhỏ nhẻ... Thời điểm ấy, Cuộc thi sáng tác Quốc ca mới đang hồi rầm rộ cao trào. Ông Trường Chinh, như ông thuật lại trong bài báo, đã gặp ông khuyến khích Văn Cao tham dự cuộc thi này nhé...

Cũng trích bài báo, tôi bắt đầu lo lắng. Tôi hiểu đó là chỉ thị của Đảng giống như chỉ thị tôi nhận được tháng 10 năm 1944 để làm bài “Tiến quân ca”.

Nhưng bây giờ tôi đã mất đi nhiều tuổi hai mươi, càng nhớ lại cái tuổi 20 đã viết “Tiến quân ca” ấy...

Văn Cao đã khôn khéo gài những thông điệp thoái thác việc tham gia viết và thi sáng tác Quốc ca mới bằng bài báo mà ông hơi bị khéo léo với những dòng: Hy vọng vào một bài Quốc ca mới mang nhiệm vụ mới! Tôi hy vọng tác giả của Quốc ca mới sẽ là đồng tác giả với nhà thơ. Có tác phẩm âm nhạc nào không cần dựa đến nhà thơ? Nhớ lại năm 1955, nhà thơ Tố Hữu góp tôi sửa lại câu kết của “Tiến quân ca” thành “nước non Việt Nam ta vững bền...”.

(Còn nữa)

Cùng chuyên mục

Rắn độc và rừng hoang đã 'bỏ bùa' họ như thế đó

Rắn độc và rừng hoang đã 'bỏ bùa' họ như thế đó

TPO - Suốt nhiều năm, thỉnh thoảng tôi vẫn được những vị khách phương xa, trong đó có cả khách Âu - Mỹ, nhờ dẫn đến những khu nhà hàng đặc sản thịt rắn như Lệ Mật để “thử món lạ”. Có những nhà báo châu Âu quyết tâm trải nghiệm đến cùng, giá cả chẳng thành vấn đề, cứ như thể đã đặt chân đến Hà Nội mà chưa nếm thịt rắn thì chuyến đi vẫn còn thiếu một điều gì đó. Vậy mà, khi tận mắt thấy quả tim rắn vẫn còn đập trong chiếc cốc thủy tinh, bên cạnh là thứ tiết đỏ au được khuấy bằng một cọng sả trắng nõn, không ít người bỗng chốc đổi ý. Họ lịch sự xin phép được dừng lại ở mức “chiêm ngưỡng”, nhường phần “thưởng thức” cho những người can đảm hơn.

Ông Nguyễn Hồng Quang tỉ mỉ, chăm chút từng sản phẩm mới

Khắc khoải về làng gốm cổ Hương Canh

TP - Từng có gần 400 hộ làm nghề, gốm Hương Canh (xã Bình Nguyên, tỉnh Phú Thọ) nay chỉ còn 4 hộ bền bỉ giữ lửa cho nghề gốm cổ. Được tạo nên từ nguồn đất trầm tích đặc biệt của địa phương, dòng gốm sành không men nổi tiếng bởi độ bền chắc và sắc màu trầm mộc mạc đang đối mặt với những khó khăn về đầu ra và nguy cơ thiếu người kế nghiệp.

Anh Lưu Quang Hà bên sản phẩm bê tông nghệ thuật của Công ty

'Chúa chổm' xứ Tuyên đúc nên cơ nghiệp

TP - Lưu Quang Hà vừa rời giảng đường đại học, bước chân khởi nghiệp liền bị quỵt tiền, phải vay nặng lãi để sống. Ở nhà, bố mắc ung thư phổi, gia đình khánh kiệt, khiến anh Hà nhiều đêm bật khóc. Nhưng rồi, anh đứng dậy, gây dựng công ty chuyên làm sản phẩm bê tông nghệ thuật – ngành nghề mà anh được học, doanh thu tiền tỷ, tạo việc làm cho gần 20 lao động. Anh còn là Bí thư Chi đoàn ở tổ dân phố.

Công an cơ sở tuyên truyền, vận động người dân xóa bỏ hủ tục nghi kỵ “cầm đồ thuốc độc” Ảnh: NN

'Bóng ma đồ độc' ám ảnh vùng cao Quảng Ngãi

TP - Ở một số bản làng miền núi Quảng Ngãi, hủ tục nghi kỵ “cầm đồ thuốc độc” vẫn âm ỉ tồn tại, len vào những mâu thuẫn đời thường, những cơn bệnh chưa được lý giải bằng khoa học. Từ một lời phán của thầy cúng, hàng xóm có thể thành kẻ thù, người vô tội bị cô lập, đánh đập, thậm chí mất mạng.

Cán bộ Trạm Y tế xã Buôn Đôn đi bộ đến từng hộ dân tại buôn Đrăng Phốk để tiêm vắc xin cho trẻ

'Cõng' vắc xin tìm trẻ giữa đại ngàn

TP - Không để người dân vất vả đưa con đến trạm y tế, vào ngày 16 hằng tháng, cán bộ y tế xã vùng xa tỉnh Đắk Lắk vượt hơn 20km đường rừng đều đặn mang vắc xin vào tận buôn. Chuyến đi của họ đã mang thêm một lớp bảo vệ đến với những đứa trẻ nơi vùng lõi rừng, từng ngày rút ngắn giữa dịch vụ y tế và người dân.

Giếng cổ được người dân tự hào giới thiệu với khách đến thăm đảo

Bí ẩn giếng cổ ở xã đảo Đà Nẵng

TP - Giữa vùng biển đảo quanh năm nắng gió, nơi từng giọt nước ngọt quý hơn vàng, hai giếng cổ dưới chân núi Bàn Than ở Tam Hải vẫn trong veo, mát lành qua hàng trăm năm.

Cựu chiến binh Nguyễn Duy Kháng và cô giáo HươngẢnh: Lê Văn Chương

Những người lính ở lại núi Dàng-Bài cuối: Trái tim cô giáo trẻ dành trọn tiếng "tít te"

TP - Tháng 2/1970, bên dòng sông Vệ (Hành Thịnh, Quảng Ngãi), những chiếc HU-1A còn gọi là tàu rọ liên tục quần đảo, gầm rít trên bầu trời. Giữa khói lửa chiến tranh, trái tim một cô giáo trẻ lại bị cuốn vào âm thanh “tít te” không ngừng của một cậu lính thông tin quê Thái Bình. “Cái này bí mật, không thể giải thích” – chàng lính Nguyễn Duy Kháng mỉm cười nói với cô giáo Nguyễn Thị Thanh Hương về công việc của mình.

Cựu chiến binh Lại Vũ Yên và bà Nguyễn Thị Bè, mối tình và đám cưới trong chiến tranh, giờ đây đã hơn 50 năm Ảnh: Lê Văn Chương

Những người lính ở lại núi Dàng-Bài 2: Mối tình người lính quân y và nữ du kích

TP - Trước năm 1975, địch xem xã Hành Thịnh là một trong những cái gai rất khó nhổ. Bởi đây là một xã đồng bằng của Quảng Ngãi nhưng lại có rất nhiều ngọn núi: núi Dàng, núi Đuôi Chuột, núi Rố, núi Gò Đồn, núi và rừng Ông Đương, gò Rú. Địa thế hiểm trở vốn là lợi thế của quân giải phóng và là vùng đất chết đối với quân đội chính quyền Sài Gòn. Y sĩ Lại Vũ Yên đã trải qua những ngày gian nan tại đây, sau đó kết hôn với cô du kích…

 Ông Trương Minh Hải, Tổ trưởng Tổ cộng đồng bảo vệ nguồn lợi thủy sản phường Hồng Ngự chăm sóc đàn cá tự nhiên Ảnh: Hoà Hội

'Ngôi nhà' của đàn cá trên sông Tiền

TP - Xuất phát từ ý tưởng giữ cá lại với dòng sông, người dân vùng đầu nguồn Hồng Ngự (Đồng Tháp) đã biến đoạn bờ kè bình dị thành “bến đỗ an toàn” của đàn cá hàng nghìn con. Cá được cho ăn, bảo vệ và sinh trưởng tự nhiên. Mô hình độc đáo này không chỉ góp phần bảo vệ nguồn lợi thủy sản mà còn đánh thức tình yêu thiên nhiên trong cộng đồng.

Chiến dịch 500 ngày đêm đang được tổ chức tại nghĩa trang liệt sĩ Hành Thịnh, xã Đình Cương. Trong số các liệt sĩ nằm lại, có nhiều người là đồng đội của vợ chồng ông Tân Ảnh: Lê Văn Chương

Những người lính ở lại núi Dàng: Mối tình lính DKB và cô y tá

TP - Cách đây hơn nửa thế kỷ, khi đất nước hòa bình, hầu hết những người lính gác lại súng gươm để trở về với quê nhà, mang theo ký ức của một thời hoa lửa. Thế nhưng, tại xã Hành Thịnh (nay là xã Đình Cương) nằm dưới chân núi Dàng- vùng căn cứ cách mạng của Quảng Ngãi, vẫn có những người lính ở lại. Đầu tháng 9 này, họ đang lặng lẽ dõi theo từng nhát cuốc của Đội tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ đang thực hiện Chiến dịch 500 ngày đêm.

Phiên chợ Sâm Ngọc Linh và dược liệu được tổ chức đều đặn mỗi tháng ở phố du lịch sầm uất của Đà Nẵng Ảnh: Giang Thanh

Quà quê kể chuyện Đà Nẵng

TP - Một tấm chiếu cói kể chuyện làng nghề, chai tinh dầu kể chuyện vùng dược liệu hay món đặc sản kể chuyện miền quê. Khi những món “quà quê” được đặt trong không gian trải nghiệm du lịch, câu chuyện về Đà Nẵng có cơ hội chạm vào du khách và theo họ đi xa hơn.

Gom rác đổi cháo sáng

Gom rác đổi cháo sáng

TPO - Từ những chai nhựa, vỏ lon, giấy vụn được gom lại từ mỗi gia đình, người dân xã Nghĩa Giang (tỉnh Quảng Ngãi) có thể đổi lấy cháo nóng. Những thứ từng bị xem là rác bỏ đi đang được biến thành nguồn quỹ để sẻ chia với người khó khăn.

Khát vọng hồi sinh nghề xưa của người trẻ Quảng Ngãi

Khát vọng hồi sinh nghề xưa của người trẻ Quảng Ngãi

TP - Từ những luống dâu ven sông Trà Khúc đến lò mật mía đỏ lửa, nhiều người trẻ ở Quảng Ngãi đang tìm cách đưa nghề truyền thống trở lại đời sống bằng tư duy mới. Không chỉ giữ nghề của cha ông, họ còn từng bước biến những giá trị văn hóa thành sản phẩm hàng hóa, tạo sinh kế và mở ra hướng phát triển mới cho quê hương.

Cồn Thanh Long trước lựa chọn nghiệt ngã: Giữ cồn hay đưa dân vào bờ?

Cồn Thanh Long trước lựa chọn nghiệt ngã: Giữ cồn hay đưa dân vào bờ?

TPO - Từ câu chuyện chực chờ bị ‘xóa sổ’ của cồn Thanh Long ở Vĩnh Long do sạt lở đã ngoài tầm kiểm soát, cho thấy giải pháp chống sạt lở cho vùng Đồng bằng sông Cửu Long đang trở nên cấp bách, tốn kém. Đặc biệt, việc giảm khai thác cát sông đang ngày càng cần thiết để giảm sạt lở, xâm thực đất đai trù phú của vùng đồng bằng này.

Concert Thanh xuân thu hút khoảng 2 vạn bạn trẻ Ảnh: Như Ý

Chạm vào kí ức

TP - Vệt nắng chiều lóa trên những huân chương của cha nơi bức tường cũ, bừng lên trong tôi màu bất diệt của thanh xuân - sự tận hiến mãi mãi tuổi đôi mươi mà thời gian là kẻ đứng rìa. Và đêm nay, giữa sóng cuộn của tuổi trẻ, một lần nữa tôi cúi đầu tri ân. Đó là giai điệu giao hòa mang tên tình yêu Tổ quốc trong đêm Thanh xuân…