Những cách Hải quân Mỹ vô hiệu hóa ‘sát thủ tàu sân bay’ của Trung Quốc

DF-21D, "sát thủ tàu sân bay" của Trung Quốc
DF-21D, "sát thủ tàu sân bay" của Trung Quốc
TPO - Liệu các tàu tấn công đổ bộ sàn lớn được trang bị tiêm kích F-35 và di chuyển nhanh hơn có nên được sử dụng làm tàu sân bay mini? Các tàu sân bay trong tương lai có nên được chế tạo nhỏ hơn, nhanh hơn và ít bị tên lửa đối phương "nhắm mục tiêu" hơn không?

Có lẽ các tàu sân bay trong tương lai sẽ hoạt động với số lượng lớn các hệ thống tấn công bằng máy bay không người lái mới? Hoặc có thể, bất chấp môi trường bị đe dọa ngày càng tăng, các hàng không mẫu hạm lớn, đầy sức mạnh và đáng sợ của Hải quân Mỹ sẽ vẫn tồn tại?

Sẽ không quá khó để đặt ra nhiều câu hỏi nếu không phải tất cả những câu hỏi này, ít nhất một phần, được thúc đẩy bởi sự tồn tại của các loại tên lửa được quảng cáo là “sát thủ tàu sân bay", bao gồm DF-26B và DF-21D, của Trung Quốc. Những vũ khí này, mới xuất hiện trong những năm gần đây, đã định hình hoặc ít nhất là ảnh hưởng đến các cuộc tranh luận đang diễn ra về vai trò, sứ mệnh trong tương lai và kế hoạch tấn công của các tàu sân bay Mỹ.

Các tên lửa chống hạm thường được đem ra thảo luận này, theo các bài báo gần đây của báo chí Trung Quốc, có thể "điều chỉnh quỹ đạo" khi bay trong khi phát hiện, theo dõi và "khóa chặt" các mục tiêu. Củng cố những tuyên bố này, một bài báo trên Thời báo Hoàn cầu của Trung Quốc nói tên lửa hoạt động như một phần của mạng tích hợp bao gồm vệ tinh, radar, khí tài trinh sát và tàu chiến.

Điều này có thể đúng hoặc có thể không đúng, nhưng dù bằng cách nào thì mối đe dọa cũng rất đáng kể.

Việc Trung Quốc gần đây bắn cả DF-21D và DF-26B một lần nữa khiến mối quan tâm này lên hàng đầu. Vũ khí có tầm bắn ấn tượng (hơn 1.500 km đối với DF-21D và 4.000 km đối với DF-26B), và nếu các báo cáo là chính xác, chắc chắn là điều cần được quan tâm.

Theo Fox News, tất cả điều này đặt ra câu hỏi: những tên lửa này có thực sự là "sát  thủ tàu sân bay"? Chúng có thể ngăn các tàu sân bay Mỹ hoạt động an toàn trong phạm vi nhất định không? Liệu sự tồn tại của chúng có thực sự thay đổi kế hoạch của Hải quân Mỹ về tàu sân bay? Hải quân Mỹ đã làm và tiếp tục làm, rất nhiều đánh giá và phân tích liên quan đến những câu hỏi này, nhưng vẫn còn tồn tại tranh luận và sự không chắc chắn.

Đương nhiên, nhiều chi tiết liên quan đến khả năng phòng thủ của tàu không được công bố vì lý do an ninh, nhưng có thể biết rằng Hải quân Mỹ đang đạt được tiến độ nhanh chóng trong việc xây dựng các hệ thống phòng thủ tàu công nghệ cao mới. Chúng bao gồm công việc đang diễn ra để trang bị cho các tàu nổi có vũ khí laser dẫn đường chính xác, có khả năng theo dõi quang học và sau đó thiêu hủy các mục tiêu đang tiếp cận ở phạm vi ngày càng xa. Các loại vũ khí đánh chặn phóng từ tàu, như SM-3, SM-6, Evolved Sea Sparrow Missile Block II, SeaRAM, Rolling AirFrame Missile và tất nhiên là hệ thống vũ khí tầm gần đã tồn tại từ khá lâu.

Tuy nhiên, đã có một số thay đổi có tác động trong những năm gần đây, vì những tên lửa đánh chặn này khác nhiều so với lúc mới ra đời vì một số lý do. Hầu như tất cả chúng đã được nâng cấp một cách đáng kể; SM-3 đang được xem xét để phòng thủ tên lửa bên ngoài bầu khí quyển của trái đất, SM-6 hiện có chế độ tìm kiếm kép có thể điều chỉnh theo mục tiêu di động trong chuyến bay và biến thể Block II ESSM có thể hoạt động ở chế độ lướt trên biển để đánh chặn tầm thấp hơn- mục tiêu ở độ cao bay song song với bề mặt - tất cả các khả năng có thể giúp vô hiệu hóa các loại vũ khí chống hạm.

Ngoài ra, có lẽ còn có ý nghĩa lớn hơn nữa, những vũ khí phòng thủ nhiều lớp này ngày càng được kết nối với nhau và được tích hợp với một hệ thống chỉ huy và kiểm soát chung cho phép chia sẻ thông tin mục tiêu nhanh chóng, điều khiển hỏa lực tổng hợp và phân loại mục tiêu gần như ngay lập tức. Là một phần của việc này, hệ thống Chỉ huy và Kiểm soát trên tàu được liên kết với các cảm biến trên không có thể nhìn thấy các mục tiêu đang tiếp cận ngoài đường chân trời và cung cấp cho các chỉ huy thêm thời gian để xác định phản ứng.

Tác chiến điện tử (EW) cũng gây chú ý, đặc biệt là với nỗ lực hiện tại của Hải quân Mỹ nhằm kết nối hơn nữa hoạt động thông tin với các hệ thống vũ khí EW. Điều này cải thiện khả năng nhận biết mục tiêu, mạng và phạm vi kỹ thuật của các khả năng tấn công EW. Có thể là, với sự trợ giúp của các cảm biến tiên tiến, các hệ thống EW trên tàu có thể phát hiện ra tín hiệu điện tử của một tên lửa chống hạm đang đến gần và “gây nhiễu”, “vô hiệu hóa nó” hoặc chỉ đơn giản là làm sai lệch các hệ thống dẫn đường của nó, khiến nó đánh trượt mục tiêu.

MỚI - NÓNG