Gỡ bỏ nghi vấn một số ảnh nổi tiếng

TPO - Giới nhiếp ảnh nhiều năm nay tồn tại những nghi vấn, ngờ vực và tranh cãi quanh một số bức ảnh nổi tiếng...

Nhà báo, nhà nhiếp ảnh Chu Chí Thành gửi Tiền Phong bài viết này, chính là tham luận ông gửi đến hội thảo “Đặng Huy Trứ - người khai sinh ngành nhiếp ảnh Việt Nam” tháng Ba tại Huế. Mong nhận được ý kiến phản hồi của các nghệ sĩ và nhà phê bình để rộng đường dư luận.

KỲ 1: Xung phong và những ảnh chiến tranh “dàn dựng”khác

Di sản văn hóa ảnh là câu chuyện mới mẻ với chúng ta, và theo tôi nó gắn liền với cốt lõi của nhiếp ảnh, liên quan đến bản chất và đặc tính của nhiếp ảnh, đến ý nghĩa xã hội và giá trị trường tồn của loại hình nghệ thuật này trong thời đại ngày nay.

Việc bảo vệ và tôn vinh giá trị đích thực của nhiếp ảnh gặp không ít trở ngại, trở ngại lớn nhất là những nhận thức thiếu khoa học, những đánh giá phiến diện, những việc làm thiếu trách nhiệm về tác phẩm nhiếp ảnh. Tại đây tôi chỉ nêu vài trường hợp- một số quan điểm, định hướng sáng tác, đánh giá sai lệch về một số tác phẩm nhiếp ảnh được coi là di sản văn hóa. Mà những bài viết đó đang nằm trên mạng, trên sách báo thậm chí trong tài liệu giảng dạy của các lớp nhiếp ảnh từ sơ cấp đến đại học! Nó chưa bị phê phán, giải trình hoặc gỡ bỏ thì mặc nhiên trở thành tài liệu thông dụng, gieo vào độc giả sự hồ nghi các giá trị chân thật, giá trị lịch sử của nhiếp ảnh nước ta.

Dàn dựng ảnh chiến tranh: Có hay không? Nên hay không?

Trong hai ảnh gốc về Trận phố Ràng của Nguyễn Tiến Lợi, bức hình vuông, có tên là Xung phong được Giải thưởng Nhà nước 2007. Bức bên phải được chụp đồng thời. Hai ảnh thể hiện rõ bối cảnh chiến trận, tình huống lính đối phương chết bên giao thông hào, tư thế các anh bộ đội thừa thắng xông lên, thể hiện khí thế tấn công quyết liệt rất thực.

Xung phong của Nguyễn Tiến Lợi chụp năm 1949, được Huy chương vàng ở Cuba năm 1960 và Giải thưởng Nhà nước 2007. Nhà nhiếp ảnh Trần Mạnh Thường bình luận: “Nguyễn Tiến Lợi dựng lại cảnh anh bộ đội “xung phong” qua xác giặc và giao thông hào như thật trăm phần trăm. Bức ảnh mang đến cho người xem cái gì đó đẹp hơn, anh hùng hơn, quyết liệt hơn của cuộc chiến đấu”. (Nhiếp ảnh Lý luận Phê bình, NXB Văn hóa Thông tin, năm 2009, trang 104).

Gỡ bỏ nghi vấn một số ảnh nổi tiếng - ảnh 1 Hai bức ảnh chụp Trận phố Ràng của Nguyễn Tiến Lợi. Xung phong là bức bên trái. Ảnh: Võ An Khánh
 

Ở đây có hai vấn đề:

Một, căn cứ vào đâu ông Thường nói đây là ảnh dàn dựng? Trong bài gửi cho Hội thảo Nhiếp ảnh Việt Nam thế kỷ 20, ông viện dẫn là nghe qua lời nhà nhiếp ảnh Nguyễn Đình Ưu, ngoài ra không có văn bản nào. Trong khi ông Ưu không có mặt tại nơi xảy ra trận đánh.

Hai, ảnh dàn dựng có bảo đảm tính khách quan, tính chân thật không? Trong nhiều bài viết, Mạnh Thường phê phán rất gay gắt phương pháp dàn dựng. Vậy tại sao trường hợp này, ông lại tán dương. Quan điểm dàn dựng để“đẹp hơn, anh hùng hơn, quyết liệt hơn” hoàn toàn trái ngược với thực tế nhiếp ảnh của ta và thế giới, trái ngược với sự lăn xả trong chiến trường, chấp nhận cái chết để có những bức ảnh chân thật của các nhà nhiếp ảnh Việt Nam như Trần bỉnh Khuol, Lương Nghĩa Dũng, Hồ Ca v.v...cũng như của các nhà nhiếp ảnh 36 quốc gia và vùng lãnh thổ (in trong cuốn sách ảnh Hồi niệm của Horst Faas và Tim Page) đã ngã xuống trên chiến trường Đông Dương.

Một nhà nhiếp ảnh khác cũng đề cao phương pháp dàn dựng- Hoàng Kim Đáng, khi bình phẩm bức Sự trừng phạt đích đáng của Quang Văn: “Người bình thường cũng nhận ra tác giả dàn dựng để chụp nhưng họ cũng thừa nhận và khen ngợi tác giả cao tay trong khâu đạo diễn” (Nhiếp ảnh Nghệ thuật-Hiện thực và sáng tạo, NXB Hà Nội, năm 2016, trang 125). Vẫn trong cuốn sách này, Hoàng Kim Đáng lại sùng bái Henri Catier-Bresson- nhà nhiếp ảnh hiện thực Pháp tôn thờ Khoảnh khắc bấm máy, không chấp nhận ảnh dàn dựng.

Điểm tựa cho luận điểm của hai ông là “ảnh nghệ thuật” chung chung, ảnh nghệ thuật thì được làm như vây.Ông Thường yêu cầu “Cái quan trọng là sự dàn dựng đó phải y như thật, đẹp hơn thật, mang ý nghĩa xã hội sâu sắc”.

Chúng ta đều biết, sức mạnh của nhiếp ảnh là phản ánh trực tiếp các hiện tượng cuộc sống không qua khâu trung gian, như diễn viên sắm vai bắt chước sự thật. Vậy tại sao lại bắt nó từ bỏ khả năng tạo hình văn minh vượt trội đó để trở về với thủ pháp giả định cũ kỹ? Còn ông Đáng căn dặn: “ Dù có dàn dựng hay “diễn” cũng vẫn phải trên cơ sở hiện thực mới được xem là một tác phẩm nhiếp ảnh nghệ thuật hiện thực và sáng tạo đích thực”. Đã “diễn” rồi thì còn đâu là sự thật thuần khiết nữa mà gọi đó là hiện thực đích thị! Cũng vậy, đã làm giả như thật lại còn đòi đẹp hơn thật. Đây rõ ràng là mâu thuẫn! Sự nhầm lẫn này, quan điểm này của hai nhà nhiếp ảnh dẫn đến điều gì? Không thể khác, nó sẽ dẫn đến việc làm mất đi tính chất quí báu nhất của nhiếp ảnh là tính chân thật.

Gỡ bỏ nghi vấn một số ảnh nổi tiếng - ảnh 2 Trạm quân y dã chiến. Ảnh: Võ An Khánh

Phủ định thiếu căn cứ?

Nhà nhiếp ảnh Vũ Huyến thường lên án ảnh diễn, phê phán sự lẫn lộn thật và giả, nhưng lại phủ định không căn cứ, không bằng chứng đối với một số tác phẩm và tác giả nhiếp ảnh nổi tiếng.Ví dụ, tháng 8/2011 trên một tờ báo, ông nói về bộ ảnh Chiến thắng Điện Biên phủ của Triệu Đại được Giải thưởng Nhà nước năm 2001: “Triệu Đại ngay lần đầu được giải Nhà nước do bộ ảnh về chiến dịch Điện Biên Phủ, người ta đã không phục. Bộ ảnh đó ông đi chụp cùng đoàn làm phim tài liệu Nga của đạo diễn Carmen năm 1960. Trong khi đó chiến dịch Điện Biên Phủ diễn ra từ năm 1954”.

Theo tập bút ký Ánh sáng trong rừng thẳm của Roman Karmen (NXB Công an Nhân dân năm 2015) thì sau nhiều ngày đêm đi tầu hỏa từ Bắc Kinh, ngày 24/5/1954 đoàn làm phim Xô-viết mới đến biên giới Việt-Trung (lúc ấy đã sau chiến thắng Điên Biên Phủ 17 ngày), họ làm việc ở Việt Nam 7 tháng, tới tháng 12/1954 rời Hà Nội bằng máy bay. Trước khi về nước, Roman Karmen và đoàn làm phim đến chào từ biệt Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch. Chuyến bay này có cả nhà thơ Nguyễn Đình Thi và nhà làm phim Phạm Văn Khoa sang lắp ráp và lồng tiếng cho phim tại Moskova. Trong sách của Roman Karmen chỉ nói tới nhà quay phim Gienhia Mukhin và Nguyễn Đình Thi đi Điện Biên Phủ quay cảnh các dân tộc và bộ đội khôi phục cuộc sống trong những ngày hòa bình đầu tiên. Không một chữ nói tới quay cảnh chiến trường. Do thực tế bộ phim có sử dụng các trường đoạn của các nhà quay phim Việt Nam đã quay trong thời gian diễn ra các trận đánh tại Điện Biên. Vì thế, phần giới thiệu phim ghi: Với sự hợp tác của các nhà quay phim Việt Nam- Hồng Nghi, Mai Lộc, Nguyễn Tiến Lợi, lời bình Nguyễn Đình Thi.

Như vậy không có chuyện mãi đến năm 1960 Roman Karmen mới sang ta làm phim! Và cũng không có chuyện Triệu Đại chụp bộ ảnh Điện Biên ăn theo Karmen vào năm 1960! Trong khi đó hai số đầu của báo Hình ảnh Việt Nam, số 1,tháng 10 và số 2, tháng 12/1954 đã in các bức ảnh Chiến thắng Điện Biên Phủ của Triệu Đại và các nhà nhiếp ảnh Việt Nam! Năm ấy, do ta chưa có điều kiện in tốt, nên các số báo hình ảnh này được in ở Trung Quốc.

Ông Huyến cũng sáng tác một cái tên lạ lẫm cho tác phẩm được Giải thưởng Nhà nước của Nguyễn Tiến Lợi. Vốn tên bức ảnh nổi tiếng ấy là Xung phong thì ông Huyến đặt là Đường ra tiền tuyến. Đường sá gì mà toàn giao thông hào vây quanh đồi, có xác lính Pháp vắt ngang qua hào, có cả hàng rào tre nứa chắn ngang và khói bộc phá chưa tan, mà rõ nhất là các chiến sĩ chân đất cầm súng lao qua hào, băng lên đồn tiếp tục chiến đấu. Nó là ảnh chụp bằng phim và máy ảnh cỡ 6x6 cm, cỡ 4x6 cm, thông thường thời ấy, thì ông Huyến lại đổ cho cụ Lợi “trích một ảnh trong phim ra dự giải”. Trong khi đó phim quay chỉ có cỡ 3x4 cm và phim 16 ly.

Ảnh mẫu của cụ Lợi còn lại cho chúng tôi xem là hình vuông 6x6 cm. Bức ảnh này ra đời năm 1949, cách ngày nay 69 năm, khi ấy cụ Lợi chưa cầm máy quay phim. Hơn nữa hình ảnh trong băng phim quay thời ấy, nếu có trích ra để in, phóng ảnh thì ảnh không có độ nét như ảnh bình thường mà cụ Lợi đã triển lãm. Nó sẽ bị chao mờ. Điều này thuộc kỹ thuật sơ đẳng mà nhà lý luận chay không lường tới!

(Còn nữa)

Phê phán bức Trạm quân y dã chiến của Võ An Khánh là “diễn”, Vũ Huyến mô tả: “Bên ngoài cáng một thương binh vào, nhìn kỹ thấy anh hướng về phía ống kính, tươi cười...Người ta hiểu trạm quân y có thật, sự kiện là thật. Nhưng việc chụp lại “diễn”!

Thực tế anh thương binh bị băng trên đầu, mắt nhắm nghiền, miệng và mũi bất động, chẳng cười cợt với ai cả. Nằm ngửa, phơi ngực có khăn dù che trên cái cáng dưới tay người quân y, mặt anh thương binh hướng lên trời, làm sao có thể hướng về phía ống kính được, trừ khi nhà nhiếp ảnh có cánh bay trên cao chĩa ông kính máy ảnh xuống đất!

Video đang được xem nhiều

Cùng chuyên mục

Xem thêm Giải trí

Mới - Nóng

Khám phá