53,43 triệu USD đào tạo cán bộ ở nước ngoài

TP - Sau 6 năm thực hiện, đề án đào tạo cán bộ tại nước ngoài bằng ngân sách Nhà nước đã được triển khai ra sao? Thứ trưởng Bộ GD-ĐT Trần Văn Nhung trả lời phỏng vấn báo Tiền phong.

Đêm thơ nhạc của SV Việt Nam tại Grenoble (Pháp)
Xin ông đánh giá sơ bộ giai đoạn I các đề án đào tạo cán bộ tại nước ngoài bằng ngân sách Nhà nước. Trong số các lưu học sinh được gửi đi học có bao nhiêu người đã trở về nước theo cam kết, bao nhiêu trường hợp bị chậm?

Trong giai đoạn I (2000-2005) các đề án đào tạo cán bộ tại nước ngoài bằng ngân sách Nhà nước đã gửi đi đào tạo 2.396 lưu học sinh (LHS), trong đó 1.581 LHS học Sau ĐH và 811 LHS học ĐH.

Trong số LHS đi học sau đại học mới có 137 người đi học theo các chương trình phối hợp đào tạo (đào tạo theo chương trình và yêu cầu của nước ngoài nhưng một phần chương trình thực hiện tại Việt Nam với sự tham gia của giảng viên Việt Nam và phần còn lại của chương trình thực hiện ở nước ngoài, nhận văn bằng của cơ sở đào tạo nước ngoài). 

Trong số sinh viên đại học, gần 10% hưởng học bổng của Đề án 322, số sinh viên còn lại học tập tại LB Nga, hưởng học bổng và các chi phí theo nguồn tiền xử lý nợ với LB Nga.

Những nước có nhiều LHS đang học tập theo học bổng của Chính phủ Việt Nam là Australia, Mỹ, Đức, Pháp, Anh, Nga, Hà Lan, Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc…

Các đề án đã gửi LHS đến học tại các trường đại học trong Top 100 của Mỹ, các trường đại học thuộc Top 8 của Australia, nhiều trường đại học đạt tiêu chuẩn 5 sao của Vương quốc Anh, các trường đại học chất lượng cao tại Pháp, Đức, Trung Quốc, Nhật Bản.

Tính đến hết năm 2005, đã có 532 LHS tốt nghiệp, trong đó có 42 tiến sĩ, 356 thạc sĩ, 134 thực tập sinh khoa học. Hầu hết LHS hoàn thành kế hoạch học tập đúng thời hạn và trở về Việt Nam, công tác tại cơ quan trước khi đi học.

Có hơn 10 LHS tại Pháp, Anh được các cơ sở đào tạo nước ngoài cấp học bổng để học trình độ cao hơn. 16 LHS thuộc Đề án 322 tốt nghiệp thạc sĩ xuất sắc, có công trình nghiên cứu khoa học có giá trị được xét cấp học bổng chuyển lên học tiếp trình độ tiến sĩ, 2 LHS tiến sĩ hoàn thành chương trình đào tạo trước 3 tháng với kết quả giỏi.

Hơn 20 LHS (khoảng 5% số LHS đã tốt nghiệp) và chủ yếu là LHS đi học tiến sĩ phải gia hạn thêm 3-6 tháng do điều kiện thí nghiệm hoặc lý do khách quan. Tổng số kinh phí đã sử dụng trong 6 năm qua là 53,43 triệu USD (khoảng 848 tỷ đồng VN), trung bình mỗi năm các đề án sử dụng 140 tỷ đồng.

Trong giai đoạn II vấn đề cấp sinh hoạt phí kịp thời cho LHS và thanh toán đúng thời hạn cho các cơ sở đào tạo có thể giải quyết được không, bằng giải pháp nào? Việc kéo dài thời gian học tập của LHS ở nước ngoài sẽ xử lý theo phương hướng nào?

Sang giai đoạn II (2006-2014), Ban Điều hành các đề án sẽ có nhiều giải pháp để tránh tình trạng thiếu kinh phí. Kế hoạch tuyển sinh và cử LHS đi học sẽ được phân rõ theo các ngành, các nước, các cơ sở đào tạo và theo thời gian cụ thể phù hợp với ngân sách trong từng thời kỳ.

Tăng số lượng LHS theo các đề án phối hợp một cách phù hợp để giảm chi phí và hạn chế tốc độ chi trong thời gian sắp tới. Với chủ trương và kế hoạch cụ thể của giai đoạn II, việc chuyển chậm sinh hoạt phí, các loại phí chắc chắn sẽ được giảm thiểu.

Như trên cũng đã nói, đa số LHS hoàn thành kế hoạch đúng thời hạn, chỉ một số LHS học tiến sĩ cần kéo dài thời hạn. Theo Quy chế , “LHS được cấp học bổng không được lưu ban, không được kéo dài thời hạn nghiên cứu, thực tập.

Trường hợp do ốm đau, tai nạn có xác nhận của bệnh viện và những lý do đặc biệt khác LHS phải được Đại sứ quán Việt Nam cho phép lưu ban hoặc kéo dài thời hạn sau khi có ý kiến của Bộ GD&ĐT và cơ quan chủ quản”.

LHS theo các đề án đào tạo tại nước ngoài thuộc phạm vi điều chỉnh của Quy chế này, họ là những người được tuyển chọn theo năng lực học tập và trước khi đi học đều viết cam kết hoàn thành nhiệm vụ trong thời hạn đã được cơ sở đào tạo nước ngoài thông báo và Bộ GD&ĐT chấp nhận.

Khi gia hạn lại được cấp kinh phí sẽ tạo ra tiền lệ không hay và làm trầm trọng thêm tình trạng thiếu hụt ngân sách, nhất là trong tình hình thiếu kinh phí để chuyển cho LHS như đã nêu ở trên.

Trong Công văn số 2149/UBKTNS ngày 05/11/2005 gửi các cơ quan liên quan và các nghiên cứu sinh xin gia hạn, Uỷ ban Kinh tế và Ngân sách của Quốc hội đã nêu rõ: “Thường trực ủy ban Kinh tế và Ngân sách cho rằng, chủ trương không cho kéo dài thời hạn (chỉ giải quyết một số trường hợp như ốm đau, sinh đẻ) và nếu được kéo dài, thì phải tự lo kinh phí là hoàn toàn đúng đắn.

Về lý, người đi học đã có cam kết, hơn nữa còn phải bồi thường chi phí đào tạo nếu không hoàn thành nhiệm vụ học tập. Về tình, chủ trương của Bộ GD&ĐT là có xem xét được gia hạn nếu có lý do bất khả kháng và phải có đủ hồ sơ báo cáo hợp lệ từng trường hợp”. Về vấn đề này, Bộ GD&ĐT tiếp tục giải quyết trên cơ sở có lý, có tình.

Mục tiêu và những điểm mới của đề án ở giai đoạn 2006-2014 là gì?

Sang giai đoạn mới, các đề án đào tạo cán bộ tại nước ngoài bằng ngân sách nhà nước tập trung vào công tác ổn định kế hoạch tuyển sinh, định hướng đối tượng và ngành nghề ưu tiên, tăng chỉ tiêu đào tạo theo phương thức phối hợp đào tạo, chú trọng hỗ trợ cán bộ và các đối tượng khó khăn có điều kiện tham gia và hưởng lợi của các đề án.

Nhưng đồng thời đảm bảo nâng cao chất lượng đào tạo đối với phương thức đào tạo toàn khoá học ở nước ngoài và phương thức phối hợp đào tạo, tiếp tục cải tiến công tác quản lý và phục vụ LHS.

Mục tiêu chủ yếu của các đề án trong giai đoạn mới là đào tạo nhiều cán bộ có trình độ chuyên môn cao, có nhận thức chính trị vững vàng để đóng góp nhiều và có hiệu quả cho các lĩnh vực kinh tế - xã hội, góp phần thực hiện đổi mới giáo dục đại học của nước ta. 

 Hồ Thu thực hiện

Video đang được xem nhiều

Cùng chuyên mục

Xem thêm Giáo dục

Mới - Nóng

Khám phá