Ai là bà hoàng đức cao vọng trọng, quyền uy bậc nhất triều Nguyễn

TPO - Thái hậu Từ Dụ với 55 năm sống trong cung cấm là một trong số bà hoàng đức cao vọng trọng, quyền uy nhất triều Nguyễn.

Nghi Thiên Chương hoàng hậu, hay còn gọi là Thái hậu Từ Dụ là vợ vua nào?

1. Nghi Thiên Chương hoàng hậu, hay còn gọi là Thái hậu Từ Dụ là vợ vua nào?

  • A. Minh Mạng

  • B. Tự Đức

  • C. Thiệu Trị

    C là đáp án đúng. Nghi Thiên Chương hoàng hậu, hay Thái hậu Từ Dụ (1810-1902) tên thật là Phạm Thị Hằng, con gái Thượng thư Bộ lễ Phạm Đăng Hưng, người Tân Hòa, Gia Định. Bà nổi tiếng là người phụ nữ hiền đức, cần kiệm. Bà được tuyển vào cung năm 14 tuổi để chầu hầu Nguyễn Phúc Miên Tông, tức vua Thiệu Trị. Khi Thiệu Trị lên ngôi năm 1841, bà được phong làm Cung tần, rồi đến chức cao nhất là Hoàng quý phi. Bà được chồng yêu quý vì thông minh, cẩn trọng, tận tâm dạy dỗ các hoàng tử, công chúa. Khi bà lên hầu hay được hỏi, vua thường gọi là Phi chứ không gọi tên. Được vua sủng ái, vật chất đầy đủ nhưng bà sống tiết kiệm, hay răn dạy cung phi rằng "Còn nhớ lúc nhỏ, gia tư chưa thừa thãi, dầu thắp đèn không đủ suốt đêm. Nay nhờ trời, nhờ tổ giàu có bốn biển, một tơ một hạt đều là máu mỡ của dân". Bà qua đời năm 1902, thọ 93 tuổi.

Hoàng thái hậu Từ Dụ quê ở đâu?

2. Hoàng thái hậu Từ Dụ quê ở đâu?

  • A. Tiền Giang

    A là đáp án đúng. Bà Từ Dụ tên thật là Phạm Thị Hằng, sinh năm Canh Ngọ Gia Long thứ 9 (ngày 10/5/1810) tại huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang. Năm 14 tuổi, bà được Thuận Thiên Cao hoàng hậu (vợ thứ của vua Gia Long) tuyển vào cung hầu Hoàng thế tử Miên Tông, vì Miên Tông mồ côi mẹ lúc 13 tuổi. Năm 1841, vua Minh Mệnh băng hà, Thế tử Miên Tông lên ngôi lấy niên hiệu là Thiệu Trị, liền phong cho bà Phạm Thị Hằng làm cung tần. Hai năm sau đó bà được phong Nhị giai Thành phi, đứng đầu các tước phi thuộc hàng nhị giai. Năm 1846 bà được phong Quý phi, đứng đầu các cung vì vua Thiệu Trị chưa phong ai ngôi Hoàng hậu và Hoàng quý phi. Năm 1847, vua Thiệu Trị ốm nặng, bà ngày đêm hầu thuốc thang không nghỉ. Theo Đại Nam chính biên liệt truyện, vua Thiệu Trị dự định phong cho bà làm Hoàng hậu nhưng chưa kịp thì ông băng hà. Trước đó, mọi việc vua đều bí mật phó thác cho bà, ông lại dụ các quan rằng: "Quý phi là nguyên phối của trẫm, là người phúc đức hiển minh, giúp ta coi công việc trong cung cấm đã 7 năm. Nay ý trẫm muốn lập làm Hoàng hậu chính ngôi trong cung, tiếc vì việc không làm kịp mà thôi".

  • B. Sóc Trăng

  • C. Kiên Giang

Bà Từ Dụ chính thức được tôn lên ngôi Hoàng thái hậu vào năm nào?

3. Bà Từ Dụ chính thức được tôn lên ngôi Hoàng thái hậu vào năm nào?

  • A. 1848

  • B. 1849

    B là đáp án đúng. Năm 1847, vua Thiệu Trị băng hà, Thái tử Hồng Nhậm được chọn nối nghiệp, lấy niên hiệu Tự Đức. Sau khi lên ngôi, vua Tự Đức nhiều lần ngỏ ý tấn tôn cho mẹ nhưng bà nhất định chối từ. Ngày 15 tháng 4 năm Tự Đức thứ hai (tức 7/5/1849), nhân dịp khánh thành Gia Thọ cung, bà mới thuận nhận Kim bảo (sách vàng và ấn vàng) và tôn hiệu là Hoàng thái hậu, giúp Hoàng đế Tự Đức việc chính sự. Theo sử cũ, bà rất trọng nhân nghĩa và quý mến hiền tài, cẩn trọng trong mọi việc triều chính nên được nhiều quần thần kính trọng. Mùa đông năm Tự Đức thứ 11 (Mậu Ngọ 1858), vua Tự Đức đích thân dâng sớ thỉnh cầu cử hành lễ tấn tôn Hoàng thái hậu, bà Từ Dụ từ chối: "Lúa thóc năm nay chưa đặng trúng mùa, dân chưa vui huê lợi". Bà còn bảo: "Chẳng ngờ ngày nay được tôn cái vinh hạnh này, ta thường lo sợ không rảnh rang để tu tỉnh, huống chi tăng thêm hư danh cho đẹp đẽ thêm nặng cái thất đức của ta sao? Ta chỉ mong các công khanh và bầy tôi hãy cố gắng ở chức vị của mình, phụ giúp chính giáo, khiến ta ngày nay thấy được sự thịnh vượng thái bình thì có cái vui nào bằng như thế". Dù là Hoàng thái hậu uy thế và quyền lực, bà vẫn một mực từ tốn với mọi người, cần kiệm trong tiêu xài, không hoang phí. Bà thẳng thắn phê phán tệ tham ô chức quyền trong triều chính và các địa hạt. "Từ xưa đến nay, quan lại chỉ một chữ tham mà chưa trừ được. Mọt nước hại dân cũng từ đó mà ra. Làm quan mấy năm vị nào cũng giàu có gấp bội. Của ấy không lấy của dân thì lấy ở đâu? Nên phải quyết trừ".

  • C. 1950

Vua Tự  Đức là con trai thứ mấy của Nghi Thiên Chương hoàng hậu và vua Thiệu Trị?

4. Vua Tự Đức là con trai thứ mấy của Nghi Thiên Chương hoàng hậu và vua Thiệu Trị?

  • A. Con cả

  • B. Con thứ 2

  • C. Con thứ 3

    C là đáp án đúng. Vua Tự Đức (Nguyễn Phúc Hồng Nhậm) là con trai thứ ba của bà Từ Dụ và vua Thiệu Trị. Bà Từ Dụ vào cung được một năm thì sinh con gái đầu lòng là Diên Phúc công chúa. Năm sau, bà sinh tiếp công chúa Uyên Ý nhưng lên 3 tuổi thì nàng mất. Năm 1829, bà sinh người con thứ ba là trai, đặt tên là Nguyễn Phúc Thì, sau đổi thành Nguyễn Phúc Hồng Nhậm. Bà Từ Dụ nổi tiếng dạy con nghiêm khắc, vua cũng rất có hiếu với mẹ. Suốt 36 năm vua Tự Đức ở ngai vàng, ngày lẻ thì ngự triều, ngày chẵn thì chầu cung. Khi gặp mẹ, vua thường nói việc nước, việc nhà để hỏi ý. Có hôm không phải thiết triều, vua đi săn bắn trong rừng Thuận Trực, bên sông Lợi Nông, cách kinh thành 15 cây số. Trời bỗng đổ mua lớn, nước dâng cao nên thuyền ngự không về được mà chỉ còn hai ngày nữa là đến ngày giỗ kỵ vua cha. Thấy con chưa về kịp, bà Từ Dụ sai quan đại thần Nguyễn Tri Phương đi đón. Đến tối thuyền rồng mới về tới bến Nghênh Lương. Trời mưa lớn, vua vẫn vội lên kiệu đi thẳng vào cung Gia Thọ (còn có tên khác là Trường Thọ, Từ Thọ, Ninh Thọ, Diên Thọ) và lạy xin chịu tội. Bà Từ Dụ xoay mặt vào trong không nói. Vua Tự Đức dâng một cây roi mây lên, nói xin nằm xuống chịu đòn của mẹ. Bà hất roi rồi nói "Có một mẹ một con, đi đâu lâu mẹ trông đợi lắm. Sao con không báo cho mẹ hay trước. Thôi tha cho. Đi chơi để quan quân cực khổ thì phải thưởng cho người ta rồi sớm mai đi hầu kỵ".

  • D. Con Út

Từ khi vào cung cho đến khi qua đời, bà Tự Dụ sống qua các thời vua nào?

5. Từ khi vào cung cho đến khi qua đời, bà Tự Dụ sống qua các thời vua nào?

  • A. Từ Thiệu Trị đến Duy Tân

  • B. Từ Thiệu Trị đến Thành Thái

  • C. Từ Minh Mạng tới Hàm Nghi

  • D. Từ Minh Mạng tới Thành Thái

    D là đáp án đúng. Bà Từ Dụ vào cung năm 1824 khi mới 14 tuổi, là con dâu vua Minh Mạng, vợ vua Thiệu Trị và là mẹ của vua Tự Đức. Thái hoàng thái hậu nhà Nguyễn qua đời năm 1902 dưới thời vua Thành Thái. Bà trở thành bà hoàng đức cao vọng trọng nhất triều đình trong 55 năm, là người chứng kiến những thay đổi vương quyền cũng như thăng trầm của triều đại qua các đời vua Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, Dục Đức, Hiệp Hòa, Kiến Phúc, Hàm Nghi, Đồng Khánh, Thành Thái.

Năm 1859, Pháp đánh chiếm Sài Gòn. Bà Từ Dụ đã sắp xếp cuộc hôn nhân giữa người chị em con cô cậu Trần Thị Sanh với thủ lĩnh nghĩa quân nào, nhằm giúp ông có lương thực và nhân lực cho cuộc chiến?

6. Năm 1859, Pháp đánh chiếm Sài Gòn. Bà Từ Dụ đã sắp xếp cuộc hôn nhân giữa người chị em con cô cậu Trần Thị Sanh với thủ lĩnh nghĩa quân nào, nhằm giúp ông có lương thực và nhân lực cho cuộc chiến?

  • A. Trương Định

    A là đáp án đúng. Trương Định hay Trương Công Định là thủ lĩnh chống Pháp giai đoạn 1859-1864. Từ Gia Thuận (Gò Công) Trương Định tập hợp nghìn quân phất cờ khởi nghĩa chống Pháp. Để tạo cho Trương Định có cơ sở nhân lực và lương thực cho cuộc chiến lâu dài, Hoàng thái hậu Từ Dụ đã sắp xếp cuộc hôn nhân giữa ông và bà Trần Thị Sanh. Bà Sanh là con bà Phụng, cháu gái của Đức quốc công Phạm Đăng Hưng, tức là chị em con cô cậu với bà Từ Dụ. Bà Sanh là phụ nữ có chí khí, hay làm việc thiện, yêu nước và giàu ở xứ Gò Công. Khi Trương Định đánh Pháp, bà lo việc rèn vũ khí, tích trữ lương thực cho nghĩa quân. Khi chồng mất, bà đem xác ông về chôn tại Gò Công. Bà Từ Dụ cũng rất trân trọng các quan trung thần, muốn có nhiều người như Võ Trọng Bình thanh liêm, Phạm Phú Thứ thẳng thắn và Nguyễn Tri Phương công trung cần cán không từ việc mệt nhọc. Bà nói: "Nếu được nhiều người như vậy, đặt ra mỗi tỉnh một người thì việc nước, việc dân được bổ ích rất nhiều, mà vua cũng khỏi lo nhọc ngày đêm, ngặt vì còn có những tham quan bóc lột của dân không chán, mà lại không biết hối cải. Những của bất nghĩa không được tồn tại, được vài đời đã khánh tận, sau con cháu cùng khổ, thiên hạ chê cười, chi bằng làm điều nhân nghĩa, lưu truyền phước trạch lâu dài".

  • B. Nguyễn Trung Trực

"Từ Huấn Lục" là sách của vua Tự Đức ghi chép những lời dạy của bà Từ Dụ, đúng hay sai?

7. "Từ Huấn Lục" là sách của vua Tự Đức ghi chép những lời dạy của bà Từ Dụ, đúng hay sai?

  • A. Đúng

    A là đáp án đúng. Bà Từ Dụ am tường kinh sử, chịu khó đọc sách kinh. Bà từng dạy vua Tự Đức rằng người có học mới phân biệt được thiện ác, lấy thiện làm gương, ác để ngăn ngừa mới có thể biến hóa khí chất không theo đường tà. Suốt 36 năm ở ngôi vua, hầu như mọi vấn đề quan trọng về triều chính, Tự Đức luôn hỏi ý kiến mẹ. Ông tự đặt ra thông lệ, hàng tháng ngày chẵn thiết triều, ngày lẻ vào thăm mẹ. Sách Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim đã chép về chuyện này như sau: "Đức Từ Dụ thuộc sử sách đã nhiều mà biết việc đời cũng rộng. Khi Đức Từ Dụ ban câu chi hay, thì ngài (vua Tự Đức) biên ngay vào một quyển giấy gọi là Từ Huấn Lục.

  • B. Sai

Tên Thái hậu triều Nguyễn được đặt cho Bệnh viện Từ Dũ - bệnh viện phụ sản lớn nhất TPHCM vào năm nào?

8. Tên Thái hậu triều Nguyễn được đặt cho Bệnh viện Từ Dũ - bệnh viện phụ sản lớn nhất TPHCM vào năm nào?

  • A. 1946

  • B. 1948

    B là đáp án đúng. Tên Thái hậu Từ Dụ hay bị đọc chệch thành Từ Dũ. Bệnh viện Từ Dũ tiền thân là chuyên khoa sản thuộc Bệnh viện Lalung Bonnaire, tức Bệnh viện Chợ Rẫy ngày nay. Năm 1937, thương gia Hui Bon Hoa (chú Hỏa) hiến đất xây Bảo sanh viện Đông Dương. Do chiến tranh, đến năm 1943 bệnh viện mới đi vào hoạt động. Sau nhiều lần đổi tên, bệnh viện mang tên Thái hậu triều Nguyễn vào năm 1948. Đây là một trong những bệnh viện đầu ngành về sản phụ khoa của cả nước và vấn đề hiếm muộn, thụ tinh nhân tạo.

  • C. 1950

Bệnh viện Từ Dũ nằm ở quận nào của TPHCM?

9. Bệnh viện Từ Dũ nằm ở quận nào của TPHCM?

  • A. Quận 1

    A là đáp án đúng. Với gần một thế kỷ làm việc và phát triển, bệnh viện Từ Dũ là nơi chảo đời của rất nhiều thế hệ em bé sinh ra ở tại TP.HCM. Bệnh viện Từ Dũ cũng là một trong bệnh viện hàng đầu ở Việt Nam vê vấn đề vô sinh, hiếm muộn và thụ tinh nhân tạo. Bệnh viện Từ Dũ hiện có 3 cơ sở nằm tại Quận 1, TP.HCM: Số 284 – đường Cống Quỳnh – Phường Phạm Ngũ Lão – Quận 1 – TP. HCM; Số 227 – đường Cống Quỳnh – Phường Nguyễn Cư Trinh – Quận 1 – TP. HCM; Số 191 – đường Nguyễn Thị Minh Khai – Phường Bến Nghé – Quận 1 – TP. HCM.

  • B. Quận 2

  • C. Quận 3

Cùng chuyên mục

Xem thêm Giáo dục

Cùng chủ đề

Mới - Nóng

Khám phá