Bóng hồng nào đứng sau cuộc đào tẩu xây cơ đồ của Chúa Nguyễn Hoàng

TPO - Nhà Nguyễn trải qua 9 chúa, 13 vua hẳn đa phần đều biết. Và có lẽ đa phần cũng tỏ rằng người mở đầu nghiệp chúa, cũng như tạo lập nên đất Đàng Trong là chúa Tiên Nguyễn Hoàng. Ấy nhưng, ai là người đã sắp xếp, tạo điều kiện cho cuộc Nam tiến ấy? Đó là Thái phi Nguyễn Thị Ngọc Bảo.

Chúa Nguyễn Hoàng rời kinh đô tiến vào phía Nam vào năm nào?

1. Chúa Nguyễn Hoàng rời kinh đô tiến vào phía Nam vào năm nào?

  • A. 1558

    A là đáp án đúng. Năm 1545, Nguyễn Kim, người có công gây dựng lại nhà Hậu Lê sau khi rơi vào tay nhà Mạc, bị hàng tướng triều Mạc là Dương Chấp Nhất đầu độc chết. Trịnh Kiểm, con rể ông được vua Lê phong làm Lượng quốc công, thay Nguyễn Kim nắm giữ binh quyền. Từ đây, Trịnh Kiểm bắt đầu thực hiện ý đồ tước bỏ dần thế lực của họ Nguyễn để tập trung quyền hành vào tay họ Trịnh. Trịnh Kiểm giết con trai cả của Nguyễn Kim là Nguyễn Uông. Trước tình thế đó, Nguyễn Hoàng, con trai thứ của Nguyễn Kim, phải tìm cách thoát khỏi sự ám hại của Trịnh Kiểm. Nguyễn Hoàng đem chuyện này bàn với cha đỡ đầu là Nguyễn Ư Dĩ và được ông khuyên cáo bệnh về nghỉ ở chốn Thuận Hóa “hiểm trở, kiên cố”. Để tránh sự nghi ngờ của Trịnh Kiểm, Nguyễn Hoàng đã nhờ chị ruột là Ngọc Bảo (vợ của Trịnh Kiểm) xin vào trấn thủ Thuận Hóa. Bên cạnh đó, Nguyễn Hoàng còn cho người đến hỏi Nguyễn Bỉnh Khiêm và nhận được câu ẩn ý “Hoành sơn nhất đái khả dĩ dung thân” (nghĩa là một dải Hoành sơn có thể dung thân được). Đất Thuận Hóa xa xôi, hiểm nghèo. Hơn nữa, nếu Nguyễn Hoàng vào đó, Trịnh Kiểm có thể tập trung tiêu diệt nhà Mạc, thu phục kinh đô, dựng cơ đồ nhà Trịnh. Vì vậy, Trịnh Kiểm đã dâng biểu xin vua bổ nhiệm Nguyễn Hoàng vào đó trấn thủ. Năm 1558, Nguyễn Hoàng được vua Lê trao “cờ tiết làm trấn thủ” và giao cho toàn quyền quyết đoán mọi việc. Từ đây, Nguyễn Hoàng bắt đầu xây dựng cơ đồ họ Nguyễn ở phương Nam, trở thành chúa Nguyễn đầu tiên.

  • B. 1559

  • C. 1560

Thái phi Nguyễn Thị Ngọc Bảo dùng kế gì để thuyết phục Trinh Kiểm để cho Nguyễn Hoàng rời kinh đô?

2. Thái phi Nguyễn Thị Ngọc Bảo dùng kế gì để thuyết phục Trinh Kiểm để cho Nguyễn Hoàng rời kinh đô?

  • A. Nói Nguyễn Hoàng giả điên

  • B. Nói xứ Thuận Hóa rừng thiêng nước độc

  • C. Cả 2 ý trên

    Theo “Nam triều công nghiệp diễn chí”, Bà Chính phi (Bảo Ngọc) của Trịnh Kiểm lập mưu bảo Nguyễn Hoàng giả điên, rồi vào thưa với Trịnh Kiểm rằng: Đứa em của tiện thiếp là quận Đoan bỗng dưng phát chứng điên đến nỗi ngu mê, như thế thì không thể giúp việc chính sự trong triều. Thiếp bị người trong triều chê cười phải xấu hổ nhiều phen. Nay thiếp nghe nói hai xứ Quảng Nam, Thuận Hóa là chỗ núi độc nước xấu, dân man hung dữ, người ta đều chê không muốn đến. Cúi xin tôn ông nghĩ đến công cha tình thiếp, cho quận Đoan em thiếp vào trấn thủ ở xứ ấy, làm bề tôi nơi phên giậu để được hưởng ơn sống suốt đời, tình nghĩa chị em nhờ thế may ra mới được trọn vẹn. Mong tôn ông thương xót ưng thuận cho”.

Thái phi Nguyễn Thị Ngọc Bảo mất năm nào?

3. Thái phi Nguyễn Thị Ngọc Bảo mất năm nào?

  • A. 1585

  • B. 1586

    Cái chết của Thái phi Ngọc Bảo như sử cũ ghi lại, không theo lẽ thường sinh, lão, bệnh, tử, mà trớ trêu thay, lại gặp nạn “bà hỏa” mà đi, việc ấy quả đúng xảy ra ngày 17 tháng 8 năm Bính Tuất (1586), đời vua Lê Thế Tông. “Đại Việt sử ký toàn thư” còn lưu chứng cứ: “Ngày 17, dinh Yên Trường cháy lớn. Khi ấy, gió to, lửa mạnh, cháy lan cả phủ dinh, trại quân, giải vũ, phố xá đến vài nghìn nhà. Mây sắc đỏ che kín mặt trời, khói đen đầy trời, từ giờ Ngọ đến giờ Thân lửa mới tắt. Bà phi của Thái vương là Nguyễn Thị Ngọc Bảo bị chết cháy, Tiết chế Trịnh Tùng ở lánh chỗ khác để tang. Truy tôn là Minh Khang Thái vương Thái phi”.

  • C. 1587

Chúa Nguyễn Hoàng thường được dân chúng gọi là gì?

4. Chúa Nguyễn Hoàng thường được dân chúng gọi là gì?

  • A. Chúa Tiên

    A là đáp án đúng. Chúa Nguyễn Hoàng sinh năm 1525 ở huyện Tống Sơn, phủ Hàng Tung, xứ Thanh Hoa (nay là xã Hà Long, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa). Do luôn coi trọng người dân, dựa vào lòng dân để cai quản đất phương Nam nên Nguyễn Hoàng được người dân quý trọng, gọi là chúa Tiên. Sách Lịch sử Việt Nam viết sau khi nhận được lệnh vào trấn thủ Thuận Hóa, Nguyễn Hoàng đem theo rất nhiều đồng hương thân tín Thanh - Nghệ. Vào buổi ban đầu, những người này đóng vai trò quan trọng trong việc khai phá đất đai, đồng thời là chỗ dựa tin cậy của chúa. Bên cạnh đó, nhiều người dân ở Thanh Hóa, Nghệ An và phía Bắc gặp phải cảnh đói kém, mất mùa, bệnh dịch cũng vào phương Nam với chúa Nguyễn. Ngay từ những năm đầu vào trấn thủ, Nguyễn Hoàng đã cho lập dinh tại xã Ái Tử thuộc huyện Vũ Xương (nay thuộc Triệu Phong, Quảng Trị). Theo Đại Nam thực lục tiền biên, thời gian trấn trị ở đây, ông luôn biết “vỗ về dân chúng, thu dùng hào kiệt, sưu thuế nhẹ nhàng, được dân mến phục, thường gọi là chúa Tiên”, “quan lại Tam ty do nhà Lê đặt đều phải theo lệnh chúa”.

  • B. Chúa Bụt

  • C. Chúa Thượng

Trấn thủ Thuận Hóa, chúa Nguyễn Hoàng chọn vùng đất nào ngày nay làm căn cứ, dựng cơ đồ họ Nguyễn?

5. Trấn thủ Thuận Hóa, chúa Nguyễn Hoàng chọn vùng đất nào ngày nay làm căn cứ, dựng cơ đồ họ Nguyễn?

  • A. Thanh Hóa

  • B. Quảng Bình

  • C. Quảng Trị

    C là đáp án đúng. Theo bài viết của PGS.TS Đỗ Bang trong cuốn Nguyễn Hoàng - Người mở cõi, Nguyễn Hoàng có ba lần dịch chuyển nơi đóng dinh nhưng cuối cùng ông vẫn lựa chọn đất Quảng Trị. Năm 1558, sau khi vào trấn thủ Thuận Hóa, Nguyễn Hoàng đã chọn đóng dinh tại xã Ái Tử, còn gọi là dinh Ái Tử, nay thuộc Triệu Phong, Quảng Trị. Đến năm 1570, ông quyết định chuyển dinh về đóng tại làng Trà Bát, cách dinh Ái Tử 2 km về phía đông bắc, lấy lợi thế nguồn nước sông Thạch Hãn và sông Ái Tử để sinh hoạt, vận chuyển và phòng thủ. 23 năm sau, Nguyễn Hoàng ra Bắc yết kiến vua Lê và ở lại hơn tám năm để cùng họ Trịnh đàn áp các hoạt động chống đối của triều Mạc. Khi trở về Thuận Hóa, ông quyết định chuyển dinh từ Trà Bát về phía nam làng Trà Bát và phía đông làng Ái Tử, lập Dinh Cát. Như vậy, trong 55 năm dựng nghiệp chúa, Nguyễn Hoàng nhiều lần ra Bắc, đi vào miền núi Ngự sông Hương, qua đèo Hải Vân, vào miền đất Quảng khảo sát hình thế núi sông, sắp đặt lại địa giới hành chính, nhưng ông vẫn chọn Quảng Trị để đặt căn cứ và đã cân nhắc qua ba lần dịch chuyển.

Mâu thuẫn giữa Nguyễn Hoàng và họ Trịnh trở nên gay gắt hơn khi nào?

6. Mâu thuẫn giữa Nguyễn Hoàng và họ Trịnh trở nên gay gắt hơn khi nào?

  • A. Ngay khi Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hóa

  • B. Ngay khi Trịnh Kiểm mất

  • C. Sau khi hai họ cùng đánh bại nhà Mạc

    C là đáp án đúng. Theo Lịch sử Việt Nam, từ khi vào trấn thủ Thuận Hóa, chúa Nguyễn Hoàng đã lo thực hiện ý đồ cát cứ và củng cố địa vị thống trị của dòng họ ở mảnh đất phía nam. Tuy nhiên, họ Nguyễn rất được tin tưởng vì luôn thực hiện thuế khóa đầy đủ và giữ được mối quan hệ thân thuộc với vua Lê, chúa Trịnh. Năm 1570, Trịnh Kiểm mất, quyền hành trao cho Trịnh Tùng, nội bộ Nam triều xảy ra lục đục, quân Mạc mở nhiều cuộc tấn công vào vùng Thanh - Nghệ. Lúc này, vua Lê giao cho Nguyễn Hoàng làm trấn thủ cả hai xứ Thuận Hóa và Quảng Nam. Nguyễn Hoàng luôn tỏ ra thần phục họ Trịnh và góp nhiều công đánh bại các cuộc nổi dậy của nhà Mạc ở vùng đất ông trấn thủ. Năm 1592, họ Trịnh đánh đổ triều Mạc, chiếm lại được Thăng Long, đón vua Lê trở về kinh thành. Tuy nhiên, dư đảng họ Mạc vẫn còn và nổi lên chống phá khắp nơi. Nguyễn Hoàng đã thân chinh từ Thuận Quảng ra Bắc để yết kiến vua Lê và cùng họ Trịnh đàn áp tàn dư họ Mạc. Nguyễn Hoàng lập được nhiều chiến công, giúp đỡ họ Trịnh củng cố địa vị thống trị. Nhưng khi triều Mạc - kẻ thù chung đã bị đánh bại thì mâu thuẫn giữa hai dòng họ Trịnh và Nguyễn lại trở nên sâu sắc. Trịnh Tùng thấy Nguyễn Hoàng có công to, đánh dẹp bốn phương đều thắng nên đem lòng ghen ghét, muốn giữ lại để kiềm chế, không cho trở về trấn. Sau tám năm bị quản thúc, năm 1600 lấy lý do đi dẹp loạn ở cửa biển Đại An (Nam Định), Nguyễn Hoàng thừa cơ vượt biển trốn về Thuận Quảng, bắt đầu thực hiện chính sách cai trị mới, dần dần tách khỏi sự ràng buộc của họ Trịnh.

Trong quá trình xây dựng cát cứ, Nguyễn Hoàng đã mở rộng bờ cõi và làm chủ được một vùng đất rộng lớn. Vùng đất đó thuộc phần nào của Việt Nam?

7. Trong quá trình xây dựng cát cứ, Nguyễn Hoàng đã mở rộng bờ cõi và làm chủ được một vùng đất rộng lớn. Vùng đất đó thuộc phần nào của Việt Nam?

  • A. Bắc Trung Bộ

  • B. Duyên hải Nam Trung Bộ

    B là đáp án đúng. Vùng đất phía nam Đại Việt có ba tiểu quốc đều phải thần phục các vua Lê là Chiêm Thành, Nam Bàn và Hoa Anh (nước đệm giữa Chiêm Thành và Đại Việt, do vua Lê lập ra sau năm 1471, là vùng Phú Yên, Khánh Hòa ngày nay). Năm 1578, Chiêm Thành nghĩ tới việc giành nước Hoa Anh nhân lúc Đại Việt bị khủng hoảng chính trị. Thời điểm đó, Nguyễn Hoàng đang nhận nhiệm vụ trấn trị tại đất Thuận Quảng, giáp ranh với nước Hoa Anh. Ông cử Lương Văn Chánh đem quân đánh, lấy được Hồ Thành (nay thuộc Tuy Hòa, Phú Yên). Sau đó, Lương Văn Chánh được coi giữ vùng này, cho dân nơi khác vào khai thác đất đai, chia lập thôn ấp, từng bước tạo nên những làng mạc ở đây. Năm 1611, Chiêm Thành lại cho quân lấn đất Hoa Anh, giết và đuổi những nông dân người Việt đang cư trú và khai khẩn đất đai ở đó. Nguyễn Hoàng sai Văn Phong đem quân đánh bại. Chiêm Thành bị thua, phải bỏ Hoa Anh. Quân Nguyễn lấy được một vùng đất giáp Quảng Nam, bên kia đèo Cù Mông đến núi Thạch Bi (nay thuộc Phú Yên). Lần này, họ Nguyễn đã được hẳn vùng đất này, Nguyễn Hoàng đặt thành một phủ là phủ Phú Yên, gồm hai huyện Đồng Xuân và Tuy Hòa. Nguyễn Hoàng cho quân phòng giữ, tổ chức dinh điền, đưa dân các tỉnh từ Quảng Nam đến Bình Định vào định cư. Việc lập ra một phủ mới ở Phú Yên đồng nghĩa với việc chúa Nguyễn xác lập chủ quyền, chấm dứt sự tranh chấp trên một vùng đất đệm giữa hai bên. Như vậy, ở thời chúa Nguyễn Hoàng, giang sơn họ Nguyễn trải dài từ đèo Ngang, Hoàng Sơn (nam Hà Tĩnh), qua đèo Hải Vân tới núi Thạch Bi, gần đèo Cả (bây giờ là vùng cực nam Phú Yên, giáp tỉnh Khánh Hòa).

  • C. Nam Bộ

Ngoài việc mở mang bờ cõi, chúa Nguyễn Hoàng còn để lại dấu ấn đưa Đàng Trong phát triển bằng cách nào?

8. Ngoài việc mở mang bờ cõi, chúa Nguyễn Hoàng còn để lại dấu ấn đưa Đàng Trong phát triển bằng cách nào?

  • A. Chỉ chú trọng nông nghiệp

  • B. Chỉ chú trọng thủ công nghiệp

  • C. Mở mang ngoại thương

    C là đáp án đúng. Sách Xứ Đàng Trong - Lịch sử kinh tế - xã hội thế kỷ 17-18 ghi: "Ngoại thương đã trở thành yếu tố quyết định trong tốc độ phát triển của Đàng Trong. Ngoài thương nghiệp, không có gì khác có thể giúp họ Nguyễn xây dựng một cách nhanh chóng vùng đất ít nhân lực này". Để đưa Đàng Trong phát triển, Nguyễn Hoàng đã cho mở mang ngoại thương, hướng tầm nhìn ra biển. Theo Đại Nam thực lục, dưới thời Nguyễn Hoàng, “thuyền buôn các nước đến nhiều. Trấn trở nên một nơi đô hội lớn”. Chúa Nguyễn Hoàng đã vượt qua tư tưởng “trọng nông ức thương” thời bấy giờ. Ông quan tâm đến hoạt động ngoại thương tại cảng thị Hội An. Sau một thời gian suy thoái kéo dài từ năm 1306 đến năm 1558, trải qua các giai đoạn dưới thời nhà Trần, nhà Hồ và nhà Lê thì phải đến thời Nguyễn Hoàng, cảng thị Hội An mới hồi sinh trở lại nhờ đường lối mở cửa buôn bán với nước ngoài. Vào cuối thế kỷ 16, đầu thế kỷ 17, thuyền buôn Nhật đã đến Hội An. Để chủ động “xúc tiến thương mại”, khuyến khích thương gia Nhật Bản đến buôn bán với Đàng Trong, Nguyễn Hoàng đã viết nhiều thư trao đổi, bàn bạc chuyện buôn bán với chính phủ Tokugawa của Nhật Bản. Nguyễn Hoàng còn nhận phái viên của Nhật là Hunamoto Yabeije làm con nuôi.

Chúa Nguyễn Hoàng xây chùa nào dưới đây ở Huế?

9. Chúa Nguyễn Hoàng xây chùa nào dưới đây ở Huế?

  • A. Chùa Thiên Mụ

    A là đáp án đúng. Chúa Nguyễn Hoàng lấy giáo lý phật giáo để cai trị, thuần tính quân dân dưới quyền. Ông đã cho sửa chữa, xây dựng nhiều ngôi chùa từ Quảng Nam ra Quảng Bình. Trong đó nổi bật nhất là việc Nguyễn Hoàng cho xây dựng chùa Thiên Mụ ở Huế vào năm 1601. Về ngôi chùa Thiên Mụ nổi tiếng ở Huế, sách Đại Nam thực lục (Tiền biên, quyển 1) có viết: “Bấy giờ, Chúa (chỉ Nguyễn Hoàng) đi dạo xem hình thế núi sông, thấy trên cánh đồng của xã Hà Khê thuộc huyện Hương Trà (nay là ngoại ô thành phố Huế), giữa khu đất bằng phẳng nổi lên một gò cao, trông tựa như hình đầu rồng đang ngoái nhìn lại, phía trước thì có sông lớn (sông Hương), phía sau có hồ rộng, cảnh trí rất đẹp đẽ. Chúa nhân đó mới hỏi chuyện người địa phương, ai cũng nói gò đất đấy rất thiêng. Tục truyền: Xưa, đang đêm bỗng có người nhìn thấy một bà già mặc áo đỏ, quần xanh, ngồi trên đỉnh gò và nói: Sẽ có vị chân chúa đến đây xây chùa để tụ khí thiêng, giữ long mạch. Nói rồi bà già ấy biến mất. Bấy giờ, nhân đấy mới gọi gò đất kia là gò Thiên Mụ. Chúa cũng cho là gò đất đấy có linh khí, bèn cho cất chùa, gọi là chùa Thiên Mụ”.

  • B. Chùa Từ Hiếu

  • C. Chùa Báo Quốc

Đội quân nào của chúa Nguyễn Hoàng được cho là rất mạnh khiến giặc phương tây khiếp sợ?

10. Đội quân nào của chúa Nguyễn Hoàng được cho là rất mạnh khiến giặc phương tây khiếp sợ?

  • A. Thổ Binh

  • B. Tượng Binh

  • C. Thủy binh

    C là đáp án đúng. Ngoài việc chăm lo đời sống nhân dân, Nguyễn Hoàng đã tổ chức được đội quân hùng mạnh. Nhất là đội thủy binh, năm 1559 khi mới định cư chưa đầy năm, tàu Tây Ban Nha đã đến gây rối ở vùng biển nước ta, chúng đã bị lực lượng phòng thủ biển cảnh cáo. Năm 1585, tàu phương Tây lại đến quấy nhiễu, Sách Đại Nam thực lục chép: “Năm Ất Dậu, bấy giờ có giặc nước Tây dương hiệu là Hiển Quý đi 5 chiếc thuyền lớn đến đậu ở Cửa Việt (Quảng Trị) để cướp bóc ven biển. Chúa sai hoàng tử thứ sáu lĩnh hơn 19 chiếc thuyền tiến thẳng cửa biển, Hiển Quý sợ chạy. Từ đó giặc biển im hơi”.

Năm 1613, Nguyễn Hoàng qua đời. Ông để người con nào kế vị?

11. Năm 1613, Nguyễn Hoàng qua đời. Ông để người con nào kế vị?

  • A. Nguyễn Phúc Nguyên

    A là đáp án đúng. Năm 1613, chúa Nguyễn Hoàng lâm bệnh nặng. Ông cho gọi con thứ sáu là Nguyễn Phúc Nguyên về kế vị và căn dặn “nếu Bắc tiến được thì tốt nhất, bằng không giữ vững đất Thuận Quảng và mở mang bờ cõi về phía nam. Đất Thuận Quảng này phía bắc có núi Hoành Sơn, sông Linh Giang, phía Nam có núi Hải Vân và Bi Sơn, thật là đất của người anh hùng dụng võ. Vậy con phải biết thương yêu dân, luyện tập binh sĩ để xây dựng cơ nghiệp muôn đời”. Theo Đại Nam thực lục, ông cũng nói với các cận thần lúc hấp hối bên giường bệnh: “Ta với các công cùng nhau cam khổ đã lâu, muốn dựng nên nghiệp lớn. Nay ta để gánh nặng lại cho con ta, các ông nên cùng lòng giúp đỡ, cho thành công nghiệp”. Nguyễn Hoàng trấn thủ đất Thuận Quảng 55 năm, thọ 89 tuổi. Ban đầu mộ Nguyễn Hoàng được táng ở vùng núi Thạch Hãn, huyện Hải Lăng, phủ Triệu Phong (nay thuộc huyện Hải Lăng, Quảng Trị), về sau được cải táng lăng mộ chuyển về núi La Khê tức Khải Vận Sơn (nay thuộc huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế). Năm 1804, vua Gia Long cho dựng Thái Miếu rộng mười ba gian để thờ các chúa Nguyễn và các công thần đời trước, chúa Tiên Nguyễn Hoàng cùng Hoàng hậu được thờ ở án chính giữa.

  • B. Nguyễn Phúc Lan

  • C. Nguyễn Phúc Tần

Cùng chuyên mục

Xem thêm Giáo dục

Cùng chủ đề

Mới - Nóng

Khám phá