Danh sĩ nổi tiếng tuổi Tý nào không đỗ trạng vẫn được tôn là Trạng?

TPO - Danh sĩ này nổi tiếng vào đời Lê Thế Tông được cho là người đem nghề dệt lụa về cho dân Phùng Xá. Sau cuộc đi sứ nhà Minh thành công, dân gian còn lưu truyền ông là “Lưỡng quốc Trạng nguyên”.

Ai không đỗ trạng nguyên nhưng vẫn được gọi là Trạng Bùng?

1. Ai không đỗ trạng nguyên nhưng vẫn được gọi là Trạng Bùng?

  • A. Nguyễn Bỉnh Khiêm

  • B. Lương Thế Vinh

  • C. Phùng Khắc Khoan

    Đáp án C. Phùng Khắc Khoan, tự là Hoằng Phu, hiệu là Nghị Trai. Ông sinh năm Mậu Tý 1528 tại làng Phùng Xá (hay làng Bùng), huyện Thạch Thất, Hà Nội. Phùng Khắc Khoan sớm nổi tiếng với tài văn chương và tinh thông thuật số. Mặc dù vậy, ông không tham gia các khoa thi dưới triều nhà Mạc. Năm 1557, nhà Lê mở khoa thi Hương tại xã Đa Lộc, huyện Yên Định (Thanh Hóa), Phùng Khắc Khoan 29 tuổi lều chõng đi thi và đỗ thủ khoa. 23 năm sau (năm 1580), dưới đời vua Lê Thế Tông, triều đình mở thi Hội ở Vạn Lại (Thanh Hóa), ông xin dự thi và đỗ Hoàng giáp (sau Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa). Lúc này ông 53 tuổi, trải qua nhiều chức vụ quan trọng dưới triều Lê - Trịnh. Tuy nhiên, dân gian phục tài, gọi ông là Trạng Bùng với hàm ý coi ông là trạng nguyên của làng Bùng. Thậm chí, sau cuộc đi sứ nhà Minh thành công, dân gian còn lưu truyền ông là “Lưỡng quốc Trạng nguyên” nữa!

Phùng Khắc Khoan là em của Trạng trình Nguyễn Bỉnh Khiêm?

2. Phùng Khắc Khoan là em của Trạng trình Nguyễn Bỉnh Khiêm?

  • A. Đúng

    Đáp án A. Phùng Khắc Khoan vốn cùng mẹ khác cha với Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm. Sau này, ông từng là học trò của Trạng Trình, nổi tiếng là người có văn tài, kiêm thông cả thuật số.

  • B. Sai

Phùng Khắc Khoan được giữ nhiều chức vụ quan trọng trong triều. Chức vụ cuối cùng của ông là gì?

3. Phùng Khắc Khoan được giữ nhiều chức vụ quan trọng trong triều. Chức vụ cuối cùng của ông là gì?

  • A. Thượng thư bộ Hộ

    Đáp án A. Cuộc đời làm quan của Phùng Khắc Khoan khá thăng trầm nhưng luôn thể hiện sự liêm chính cương trực vì nước vì dân, được các đời vua trọng dụng. Sau khi Phùng Khắc Khoan đỗ đầu kỳ thi Hương năm 1557, ông được Trịnh Kiểm biết đến là người có học thức, mưu lược nên đã cho tham dự việc triều chính, giữ chức ký lục ở ngự dinh, coi quân bốn vệ. Từ năm 1558 đến năm 1571, ông giữ nhiều chức vụ quan trọng. Nhưng cũng trong thời gian này, vì làm trái ý vua, ông từng bị giáng chức, phải ra thành Nam, huyện Tương Dương, Nghệ An. Ít lâu sau, vua lại triệu ông về. Sau khi đỗ Hoàng giáp kỳ thi Hội, ông liên tục được thăng chức vì có những đóng góp lớn cho triều đình. Năm 1593, sự nghiệp trung hưng của nhà Lê hoàn thành, Phùng Khắc Khoan được coi là công thần. Ở tuổi 69, khi đang làm Tả thị lang bộ Công, ông được cử làm Chánh sứ sang triều Minh (Trung Quốc). Ông từng giữ tới chức Thượng thư bộ Hộ (năm 1602) trước khi xin về quê.

  • B. Thượng thư bộ Lại

  • C. Thượng thư bộ Công

Trong lần đi sứ, gặp sinh nhật vua Minh, Phùng Khắc Khoan đã dâng tặng thứ gì khiến vua Minh khen ngợi mà phê rằng hiền tài ở đâu cũng có?

4. Trong lần đi sứ, gặp sinh nhật vua Minh, Phùng Khắc Khoan đã dâng tặng thứ gì khiến vua Minh khen ngợi mà phê rằng hiền tài ở đâu cũng có?

  • A. Hai câu đối

  • B. 30 bài thơ

    Đáp án B. Sau khi sự nghiệp trung hưng thành công, vua Lê về kinh đô. Cùng việc khôi phục kinh tế, triều đình phải lo một việc lớn là đối ngoại với nhà Minh bởi lúc bấy giờ, nhà Minh đã nhận hối lội của nhà Mạc nên không chịu nhận sứ thần của nhà Lê. Năm 1597, khi đang làm Tả thị lang bộ Công, Phùng Khắc Khoan được cử làm Chánh sứ sang nhà Minh. Trong Lịch triều hiến chương loại chí, phần Nhân vật chí, Phan Huy Chú viết; "Bấy giờ nhà Minh nhận hối lộ của con cháu nhà Mạc, không chịu nhận sứ. Ông (chỉ Phùng Khắc Khoan) còn đợi mệnh vua Minh, liền đưa thư cho Súy ty nhà Minh (tức quan coi cửa ải), kể rõ việc nhà Mạc cướp ngôi... Người Minh khen là có nghĩa mới cho sứ thần qua cửa quan". Khi đến Yên Kinh, Lễ bộ đường của triều Minh trách việc nhà Lê cống sai mẫu nên không cho vào. Phùng Khắc Khoan đã có những lời biện bạch thuyết phục được vua Minh nên được vào trầu và lĩnh ấn sắc đem về nước. Trong dịp này, gặp ngày sinh nhật vua Minh, ông dâng lên tập thơ gồm 30 bài khiến vua Minh Thần Tông nể phục. Chính sử chép: "Khắc Khoan đến Yên Kinh, vừa gặp tiết Vạn Thọ của vua Minh, dâng 30 bài thơ lạy mừng. Trương Vị đem tập thơ Vạn Thọ ấy dâng lên. Vua Minh cầm bút phê rằng Người hiền tài ở đâu mà không có. Trẫm xem thơ, thấy hết lòng trung thành của Phùng Khắc Khoan, rất đáng khen ngợi rồi sai đưa xuống khắc in để ban hành trong nước".

  • C. Sách bàn việc dùng binh

Phùng Khắc Khoan đã có công đưa loại lương thực nào ở Trung Quốc về trồng ở Việt Nam?

5. Phùng Khắc Khoan đã có công đưa loại lương thực nào ở Trung Quốc về trồng ở Việt Nam?

  • A. Lúa

  • B. Khoai

  • C. Ngô

    Đáp án C. Trong thời gian đi sứ ở Trung Quốc, Phùng Khắc Khoan đã đưa giống ngô về trồng ở quê nhà.Cũng trong chuyến đi sứ, Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan còn để tâm tìm hiểu và nắm bắt một số kỹ thuật sản xuất nhằm đưa về phổ biến trong nước. Theo cuốn Thần đồng xưa nước ta, trên đường đi, ông thấy nhiều xưởng dệt tơ bèn lân la làm quen, quan sát, nhớ mọi chi tiết rồi ghi chép lại. Khi về nước, ông đã truyền nghề dệt lụa mỏng (dân gian gọi là "Lượt Bùng") cho người dân. Trong thời gian rời kinh về quê, Phùng Khắc Khoan hướng dẫn người dân làm nông. Ông viết nhiều bài thơ phổ biến trong dân gian về cây cỏ, rau quả, gia súc, gia cầm cùng cách nuôi, trồng và ích lợi của chúng. Ví dụ: "Trồng dưa chớ để mùa qua/ Ngăn phên mắt cáo kẻo gà đạp kê/ Quanh vườn thả dậu sừng dê/ Mướp trâu dưa chuột bốn bề leo dong".

Phùng Khắc Khoan nổi tiếng với tài thơ văn. Ông sáng tác thơ văn bằng loại chữ nào?

6. Phùng Khắc Khoan nổi tiếng với tài thơ văn. Ông sáng tác thơ văn bằng loại chữ nào?

  • A. Chữ Hán

  • B. Chữ Nôm

  • C. Cả chữ Nôm và chữ Hán

    Đáp án C. Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan là thi sĩ tài hoa và được đánh giá xứng đáng tầm vóc một tác gia lớn của nền văn học Việt Nam. Giới sưu tầm đã xác định được trên 500 tác phẩm của ông bao gồm văn tế, văn bia, kinh truyện... nhưng đặc sắc hơn cả là thơ, bao gồm cả chữ Hán và chữ Nôm. Bốn tập thơ chữ Hán tiêu biểu của Phùng Khắc Khoan còn lại đến ngày nay là Ngôn chí thi tập, Huấn đồng thi tập, Đa thức tập, Mai lĩnh sứ hoa thi tập. Nhà thơ Hữu Thỉnh đánh giá: "Chỉ riêng với bốn tập thơ trên đã khẳng định và tôn vinh tầm vóc Phùng Khắc Khoan". Sáng tác chữ Nôm của Phùng Khắc Khoan phải kể đến như Ngư phủ nhập Đào nguyên, Lâm tuyền vãn... Thơ văn của Phùng Khắc Khoan phản ánh thời thế, chí hướng, tâm trạng, thiên nhiên..., có giá trị lớn trong việc nghiên cứu xã hội. Ngoài ra, thơ văn của ông còn góp phần giải quyết công việc ngoại giao mà ông đảm nhiệm.

Ở TP HCM có con đường nào mang tên Phùng Khắc Khoan?

7. Ở TP HCM có con đường nào mang tên Phùng Khắc Khoan?

  • A. Đúng

    Đáp án A. Năm 1613, Phùng Khắc Khoan mất, thọ 86 tuổi, được truy tặng Thái phó. Để tưởng nhớ công ơn của ông, người dân Phùng Xá (Thạch Thất, Hà Nội) đã lập đền thờ. Nhiều đường, phố, trường học ở các tỉnh, thành được đặt theo tên của ông, tiêu biểu là ở Hà Nội và TP HCM. Đường Phùng Khắc Khoan ở TP HCM nằm ngay quận 1 (quận trung tâm). Ở Hà Nội, đường này thuộc quận Hai Bà Trưng.

  • B. Sai

Danh sĩ nào đời Lê Thánh Tông đỗ trang nguyên lúc 22 tuổi, được phong làm Phúc thần thượng đẳng?

8. Danh sĩ nào đời Lê Thánh Tông đỗ trang nguyên lúc 22 tuổi, được phong làm Phúc thần thượng đẳng?

  • A. Vũ Đức

  • B. Vũ Duệ

    Đáp án B. Vũ Duệ (Mậu Tý, 1468- 1522) Danh sĩ đời Lê Thánh Tông, quê làng Trình Xá, huyện Sơn Vi, tỉnh Sơn Tây. Năm Canh Tuất 1490 ông đỗ Trạng nguyên lúc 22 tuổi. Ông làm Tham chính ở Hải Dương đến đời Lê Chiêu Tông (1520), ông được phong Trình Ý công thần, Thượng thư bộ Lại, Thiếu bảo, kiêm Đông các đại học sĩ, tước Trình Khê Bá. Khi ông làm quan, thấy Mạc Đăng Dung giết hại quan Ngự sử Đỗ Nhạc, bức hiếp vua Lê và các đại thần, ông phẫn uất có ý muốn triệt hạ Mạc Đăng Dung để cứu loạn an dân. Nhưng Lê Chiêu Tông hèn yếu, năm 1522 bỏ ngôi chạy vào Thanh Hóa để tránh sự áp đảo của Mạc Đăng Dung. Ông chạy theo vua. Vào đến Thanh Hóa thì nhà vua bị nhóm Trịnh Tuy bức bách đi nơi khác. Ông già yếu không theo kịp, đau xót tự vẫn, chết khoảng cuối năm Nhâm Ngọ 1522, hưởng dương 54 tuổi. Ngô Hoán và Nguyễn Mẫn Đốc cũng tự vẫn chết theo ông. Nhà Lê Trung Hưng, truy phong ông vào bậc nhất tiết nghĩa, làm Phúc thần thượng đẳng, dựng đền thờ phụng.

  • C. Vũ Biền

Văn thần nào đời nhà Mạc từng bị vua Nhà Minh lung lạc suốt 18 năm vẫn giữ nguyên khí tiết?

9. Văn thần nào đời nhà Mạc từng bị vua Nhà Minh lung lạc suốt 18 năm vẫn giữ nguyên khí tiết?

  • A. Lê Quang Bí

    Đáp án A. Lê Quang Bí (Giáp Tý 1504- ?) Còn gọi là Lê Quang Bôn (vì chữ Bí cũng đọc là Bôn, nên có sách chép là Lê Quang Bôn), Văn thần nhà Mạc, tự Thuần Phu, hiệu Hối Trai. Dòng dõi Lê Cảnh Tuân, con Lê Nại, cháu Lê Đỉnh, cháu ngoại Võ Quỳnh, quê làng Mộ Trạch, huyện Đường An, tỉnh Hải Dương. Năm Bính Tuất 1526 ông đỗ nhị giáp tiến sĩ (hoàng giáp) 22 tuổi, đời Lê Cung Hoàng. Năm 1527 Mạc Đăng Dung đảo chính, ông thành bề tôi nhà Mạc, làm Tả thị lang bộ Hộ. Năm Mậu Thân 1548, ông đi sứ nhà Minh, bị vua Minh giữ lại không cho về. Suốt 18 năm bị đày ở Trung Quốc, ông vẫn giữ vững tiết tháo, không quị lụy khiến đám quan lại nhà Minh phải cảm phục tài đức. Vì vậy ông được về nước. Năm Bính Dần 1566, ông về đến nước nhà tóc đã bạc phơ (62 tuổi) khiến cả triều đình đều cảm động, Mạc Mậu Hợp phong ông làm Thượng thư bộ Hộ, tước Mộ Xuyên Hầu. Sau khi mất được truy tặng Thiếu bảo tước Tô Quận Công. Ông là tác giả sách Tư hương vận lục, trong đó có nhiều thơ vịnh sử, về các nhân vật trong thân tộc như: Lê Cảnh Tuân, Lê Nại....

  • B. Lê Quang Chiêu

  • C. Lê Quang Đức

Danh sĩ nào sinh năm Bính Tý – 1516 có công soạn thảo bộ Ứng đáp bang giao Việt Nam- Trung Quốc?

10. Danh sĩ nào sinh năm Bính Tý – 1516 có công soạn thảo bộ Ứng đáp bang giao Việt Nam- Trung Quốc?

  • A. Giáp Hải

    Đáp án A. Giáp Hải (Bính Tý, 1516- 1588) - Danh sĩ đời Mạc, tự Tiềm Phu, hiệu Tuyết Trai, quê làng Sinh Kế, huyện Phượng Nhỡn, phủ Lạng Giang. Năm Mậu Tuất 1538, đời Mạc Đăng Doanh, ông đỗ Trạng nguyên, mới 23 tuổi đổi tên lại là Trưng nên cũng gọi là Giáp Trưng. Ông có tiếng về văn thơ, được sĩ phu đương thời trọng vọng. Mỗi khi có việc bang giao với nhà Minh, ông thường lãnh việc đối đáp và thảo văn thư, khiến họ phải nể phục gọi là Giáp Trạng nguyên. Năm Quý Tỵ 1583, đời Mạc Mậu Hợp, ông làm Thượng thư bộ Lại, tước Luân Quận Công, gia thăng Thiếu bảo. Năm sau, lại được trông coi cả 6 bộ, kiêm Đông các đại học sĩ, coi cả việc Kinh điển. Năm Bính Tuất 1586 ông nghỉ hưu ở tuổi 70. Sau hai năm (Mậu Tý 1588), đời Mạc Mậu Hợp ông mất, thọ 72 tuổi. Ông có soạn một bộ Ứng đáp bang giao cũng gọi là Bang giao bị lãm gồm 10 quyển ghi các công văn ngoại giao giữa Việt Nam- Trung Quốc.

  • B. Giáp Nhất

  • C. Giáp Ninh


Cùng chuyên mục

Xem thêm Giáo dục

Mới - Nóng

Khám phá