Độc nhất vô nhị ở Việt Nam: Bỏ giấy trắng vẫn đỗ tiến sĩ

TPO - Nguyễn Trật để giấy trắng khi thi nhưng vẫn được đề danh khắc bia đỗ tiến sĩ tại Văn Miếu Quốc Tử Giám. Đây được coi là chuyện độc nhất vô nhị trong lịch sử thi cử ở Việt Nam.

Nguyễn Trật quê ở đâu?

1. Nguyễn Trật quê ở đâu?

  • A. Nam Định

  • B. Thái Bình

  • C. Thanh Hóa

    Nguyễn Trật sinh năm 1573, người làng Nguyệt Viên, huyện Hoằng Hóa (nay thuộc xã Hoằng Quang, huyện Hoằng Hóa, Thanh Hóa). Tương truyền ông là người cao lớn khỏe mạnh, lại hiền lành siêng năng. Vậy nhưng vì tối dạ nên dù đọc sách nhiều, Nguyễn Trật không nhớ nổi mấy trang. Thế là sau một thời gian miệt mài, ông cuối cùng cũng phải bỏ cuộc, không còn màng đến sách vở nữa.

Ai là người đã khiến Nguyễn Trật học hành, quay lại giấc mộng khoa cử?

2. Ai là người đã khiến Nguyễn Trật học hành, quay lại giấc mộng khoa cử?

  • A. Thầy giáo

  • B. Thầy địa lý

    Theo sách Tang thương ngẫu lục, không còn vương vấn con đường công danh, khoa cử, nhưng lúc bấy giờ có một thầy địa lý đi chơi qua làng Nguyệt Yên, thấy Nguyễn Trật hiền lành, lễ độ nên đã khuyên ông nên tiếp tục con đường khoa cử. Sau khi được thầy địa lý khuyên bảo, Nguyễn Trật lại tìm thầy miệt mài kinh sử, chăm chú việc đèn sách.

  • C. Cha mẹ

Nguyễn Trật đi thi lại năm bao nhiêu tuổi?

3. Nguyễn Trật đi thi lại năm bao nhiêu tuổi?

  • A. 40

    Năm ông 40 tuổi, triều đình mở khoa thi Hội, Nguyễn Trật miễn cưỡng lều chỏng đi thi. Biết học trò của mình hiền lành, lễ độ nhưng tối dạ nên thầy giáo dặn các học trò khác khi vào trường thi thì nhớ tìm cách giúp đỡ cho Nguyễn Trật. Lúc bấy giờ nhà Lê Trung Hưng vừa đánh bại nhà Mạc nên kinh thành Thăng Long còn rất lộn xộn, việc thi cử còn lỏng lẻo. Nhờ thế mà khi đi thi, Nguyễn Trật được bạn bè giúp đỡ ông vượt qua được trường nhất, trường nhì và trường ba. Đến trường tư thì bạn bè của Nguyễn Trật hầu như đã rơi rớt hết cả. Chẳng còn ai giúp Nguyễn Trật khi ông thi trường tư, cũng là kỳ thi cuối cùng của thi Hội.

  • B. 41

  • C. 42

Nguyễn Trật làm thế nào để đỗ kỳ thi cuối và lọt vào thi Đình?

4. Nguyễn Trật làm thế nào để đỗ kỳ thi cuối và lọt vào thi Đình?

  • A. Nhờ củ gừng

  • B. Nhờ giúp người

  • C. Cả 2 ý trên

    Theo Sách Tang thương ngẫu lục, đến trường tư, ông ở nhà nằm ngủ ngày, trong giấc chiêm bao, thấy có một vị thần đến, kêu to lên rằng: Khương khương! Tỉnh dậy ông nghĩ: Hai chữ Khương cùng âm (một chữ là họ hoặc tên người, một chữ là gừng), ta cứ thử mang theo gừng xem sao. Hôm vào trường tư, ông mang theo gừng thật. Thế rồi chiều tối hôm ấy, ở lều bên cạnh có một thí sinh vật vã ôm bụng kêu đau, hỏi ra mới biết đó chính là viên nho sinh quê ở làng Bột Thái. Ông đem nước gừng đổ cho uống. Lát sau, người ấy lấy quyển thi của mình ra và nói: Đây là bài thi rất đắc ý của tôi nhưng chưa đề tên vào, nay xin tặng ông để đền ơn. Xin ông cõng tôi ra khỏi trường, tôi dầu có chết cũng chẳng ân hận gì nữa. Ông vâng lời, cõng viên Nho sinh ra khỏi trường. Sau, viên Nho sinh này lại phát bệnh mà mất. Nguyễn Trật nhận bài thi của Nho sinh này, nhưng vì bài thi làm chưa xong nên ông viết thêm phần cuối cho xong, ghi tên mình vào rồi nộp cho quan trường. Khi các quan chấm thi thấy bài của Nguyễn Trật làm rất hay, nhưng đến phần sau thì câu văn kém hẳn nhưng vẫn chấm nằm trong 7 người đỗ đầu được vào thi Đình.

Vì sao Nguyễn Trật bỏ giấy trắng, suýt bị phạt vẫn đỗ tiến sĩ?

5. Vì sao Nguyễn Trật bỏ giấy trắng, suýt bị phạt vẫn đỗ tiến sĩ?

  • A. Nịnh Chúa

  • B. Hộ giá Vua

    Vào đến thi Đình, Nguyễn Trật không sao làm bài được bèn bỏ giấy trắng nộp bài. Cho rằng Nguyễn Trật ngông nghênh nên nộp giấy trắng, Triều đình rất tức giận. Theo lệ thì 7 người vào đến thi Đình thì đều đậu hết, chỉ là phân định ra một người đỗ đầu và sáu người còn lại đỗ tiến sĩ (theo thứ tự). Tuy nhiên, trong khi Triều đình dự định xóa tên ông khỏi tất cả các kỳ thi và cân nhắc hình thức xử phạt thì trong Triều có biến, chúa Trịnh Tùng ốm nặng không qua khỏi liền trao quyền bính lại cho con cả là Trịnh Tráng. Một người con khác là Trịnh Xuân đem quân tranh giành quyền với anh mình, giao tranh khiến kinh thành hỗn loạn, Trịnh Tráng vội rước Vua vào Thanh Hóa. Trong lúc hỗn loạn, Nguyễn Trật có công lớn khi hộ giá nhà Vua đến Thanh Hóa, vì thế sau đó việc trừng phạt được bỏ qua. Cuối cùng ông vẫn được cho đậu tiến sĩ, và có lẽ đây là trường hợp thí sinh văn tài không có, nộp giấy trắng vẫn đậu vị tiến sĩ đặc biệt có một không hai trong lịch sử.

  • C. Xin làm lại bài

Tại Văn Miếu- Quốc Tử Giám có bao nhiêu bia tiến sĩ?

6. Tại Văn Miếu- Quốc Tử Giám có bao nhiêu bia tiến sĩ?

  • A. 80

  • B. 81

  • C. 82

    Với 3 đợt dựng bia tiến sĩ lớn vào các năm 1484 (7 bia), 1653 (25 bia), 1717 (21 bia), xen kẽ 2 giai đoạn dựng bia tiến sĩ thường xuyên vào cuối các triều đại Lê sơ và Lê trung hưng, 82 bia tiến sĩ tại Văn Miếu-Quốc Tử Giám (gồm: 13 bia khắc các khoa tiến sĩ triều đại nhà Lê sơ, 1 bia khắc khoa thi tiến sĩ triều đại nhà Mạc, 68 bia khắc các khoa thi tiến sĩ triều đại nhà Lê trung hưng), đề danh cùng thứ bậc và quê quán của 1304 vị tiến sĩ Nho học (3 người trong số đó là Trịnh Thiết Trường, Nguyễn Nguyên Chẩn và Nguyễn Nhân Bị đỗ tiến sĩ hai lần).

Vị trạng nguyên đầu tiên nào được dựng bia tiến sĩ ở Văn Miếu?

7. Vị trạng nguyên đầu tiên nào được dựng bia tiến sĩ ở Văn Miếu?

  • A. Nguyễn Hiền

  • B. Nguyễn Trực

    Nguyễn Trực là trạng nguyên đầu tiên của nhà Hậu Lê, đồng thời là người đầu tiên có tên trên văn bia. Nguyễn Trực (1417 – 1473), tự Công Đĩnh, hiệu Sư Liêu, là người làng Bối Khê, Thanh Oai, Hà Tây. Ông xuất thân trong gia đình khoa cử, ông nội là tiến sĩ Nguyễn Bính, cha là tiến sĩ Nguyễn Thì Trung. Năm 1442, ông thi Đình, đỗ Đệ nhất giáp Tiến sĩ Đệ nhất danh (Trạng nguyên) và ra làm quan. Sử ghi trong một lần đi sứ Trung Quốc, gặp đúng dịp thi Đình, muốn cho triều đình nhà Minh biết tài học của dân ta, Nguyễn Trực cùng phó sứ Trịnh Khiết Tường ứng thi. Tài văn chương của hai ông bộc lộ rõ. Nguyễn Trực một lần nữa đỗ Trạng nguyên trong khi Trịnh Khiết Tường đỗ Bảng nhãn. Triều đình và dân chúng triều Minh thán phục tài năng của vị trạng nguyên người Đại Việt, tôn xưng ông là Lưỡng quốc trạng nguyên. Những năm làm quan, cống hiến cho đất nước của Nguyễn Trực chứng minh rằng, ông không chỉ nắm rõ mà còn một mực tuân theo đạo lý “tôi hiền”. Ngày nay, vị Lưỡng quốc trạng nguyên lỗi lạc này được thờ tại Từ đường Trạng nguyên Nguyễn Trực – di tích Lịch sử văn hóa cấp quốc gia, ở làng Bối Khê, huyện Thanh Oai, Hà Nội.

  • C. Nguyễn Thiến

Video đang được xem nhiều

Cùng chuyên mục

Xem thêm Giáo dục

Mới - Nóng

Khám phá