Kết quả nghiên cứu Ngân hàng Thế giới về VNEN: Nhiều con số bất ngờ

TPO - Ngân hàng Thế giới vừa công bố kết quả nghiên cứu đánh giá tác động của mô hình trường học mới (VNEN).

Theo kết quả nghiên cứu vừa được công bố, việc áp dụng VNEN có tác động nhất định đến cả năng lực nhận thức và phi nhận thức của học sinh. Mức độ tác động trung bình đối với môn Tiếng Việt là 0.16, môn Toán là 0.18 và với kỹ năng phi nhận thức là 0.41.
Đối với kỹ năng phi nhận thức, những học sinh tham gia VNEN cũng được cải thiện xây dựng kỹ năng ứng xử và tạo lập quan hệ. Những kỹ năng này bao gồm chịu trách nhiệm về đồ dùng cá nhân của mình, quản thời gian và giữ lời hứa.
Kết quả nghiên cứu Ngân hàng Thế giới về VNEN: Nhiều con số bất ngờ - ảnh 1 Mức độ tác động của VNEN đến kỹ năng nhận thức và phi nhận thức của học sinh
Nghiên cứu theo dõi mẫu gồm 325 trường VNEN đại diện cho cả nước và 325 trường không thuộc VNEN, từ đó có thể so sánh được sự thay đổi và phát triển của đối tượng đánh giá qua cả một quá trình Nghiên cứu bao gồm các vòng số liệu lặp lại của hàng nghìn học sinh, giáo viên, hiệu trưởng và phục huynh. Số liệu được thu thập liên quan tới sự phát triển kỹ năng nhận thức và phi nhận thức của học sinh; và niềm tin, thái độ, sự quan tâm và ưu tiên của những đối tượng liên quan.

85% cha mẹ ủng hộ khi biết về VNEN

Phụ huynh khi biết về VNEN có xu hướng ủng hộ trường học này. Số liệu cho thấy rằng phần lớn cha mẹ học sinh ủng hộ VNEN.

Cũng theo kết quả này, phụ huynh ủng hộ VNEN vì theo họ VNEN mang tới hiệu năng học tập cho các em cũng như các kỹ năng khác như giao tiếp, lãnh đạo và tổ chức. o Phụ huynh VNEN phần lớn là nông dân, và chỉ rất ít trong số đó có bằng câp 3. Tuy nhiên họ rất tích cực tham gia vào giáo dục cho con em mình và có nhân thức tốt, chi tiết về phương pháp VNEN, ví dụ như Hội đồng tự quản học sinh.
Kết quả của nghiên cứu cho thấy, có 71% cha mẹ học sinh các trường nhóm VNEN và 37% cha mẹ học sinh nhóm các trường đối chứng biết về mô hình VNEN.
Nghiên cứu khảo sát đối với 6.000 cha mẹ học sinh trong tổng số những người đã biết về mô hình VNEN (chiếm khoảng 54% trên tổng số mẫu) thì có tới 85% cha mẹ học sinh bày tỏ quan điểm ủng hộ mô hình VNEN.
Trong đó có 64% bày tỏ quan điểm rất ủng hộ và 21% bày tỏ quan điểm ủng hộ. Số liệu của nghiên cứu cũng cho thấy, chỉ có 6% trong tổng số 6.000 cha mẹ học sinh bày tỏ quan điểm không ủng hộ mô hình này. 9% giữ thái độ trung lập.
Kết quả nghiên cứu Ngân hàng Thế giới về VNEN: Nhiều con số bất ngờ - ảnh 2 Tỉ lệ ủng hộ của cha mẹ học sinh đối với VNEN theo khảo sát của nhóm nghiên cứu.
75% hiệu trưởng VNEN nhận thức rằng trường học truyền thống cần phải thay đổi
Một số liệu khác có liên quan của kết quả vừa công bố, là có tới 75% hiệu trưởng VNEN nhận thức rằng trường học truyền thống cần phải thay đổi. Trong khi đó, nhận thức về việc trường học truyền thống cần được thay đổi giảm (từ 73% xuống 63%) khi khảo sát các hiệu trưởng ở các trường không thuộc VNEN.
"Hiệu trưởng VNEN cho thấy niềm tin vào bản thân của họ ngày càng lớn khi họ được áp dụng thử mô hình" - nghiên cứu viết.
Tuy nhiên một số Hiệu trưởng tại các trường không thuộc VNEN vẫn cho rằng trường học truyền thống vẫn là phù hợp.

Cũng theo nghiên cứu này, giáo viên hiểu rõ về lí thuyết và tư duy của VNEN (ví dụ như việc khuyến khích để học sinh biết vấn đáp quan trọng hơn việc giáo viên cần thuyết giảng giỏi).

Tuy nhiên việc thực hiện một số hoạt động còn khá khó khăn đối với giáo viên. Ví dụ, giáo viên cảm thấy khó khăn trong việc chấp nhận rằng học sinh học nên thông qua việc mắc lỗi, thay vì nói trước để tránh các em mắc lỗi.

Trung bình, độ tuổi của giáo viên trong mẫu nghiên cứu này là khoảng 40 tuổi, và có sự tương đồng về độ tuổi giữa các trường thuộc nhóm đối chứng và các trường thuộc nhóm VNEN. Hơn một nửa số giáo viên (GV) có bằng đại học hoặc cao đẳng, và họ đã có 18 năm kinh nghiệm giảng dạy, với thâm niên công tác khoảng 11 đến 12 năm trong các trường thuộc mẫu. Khoảng một phần năm số GV trong các tỉnh thuộc Nhóm ưu tiên 1 là người dân tộc thiểu số. 
“Mức lương của GV gần bằng thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam, điều này cho thấy rằng GV không giàu cũng không nghèo. Các trường thuộc nhóm VNEN và các trường thuộc nhóm đối chứng có sự đánh giá tương đồng về mức độ hài lòng trong công việc, với nhiều GV của VNEN nhận được giải giáo viên dạy giỏi ở cấp tỉnh hơn”- kết quả chỉ rõ. 

Cùng chuyên mục

Xem thêm Giáo dục

Mới - Nóng

Khám phá