Ôn luyện môn Văn: Chuyên đề "Sóng"

TPO - Chuyên đề giúp học sinh tiếp cận và phân tích một trong những bài thơ tình đặc sắc nhất của thơ ca Việt Nam nói chung và của nữ sĩ Xuân Quỳnh nói riêng.

Nhà thơ Xuân Quỳnh (bên phải) - tác giả của "Sóng".
Sóng và em có mối quan hệ như thế nào? Tâm hồn người phụ nữ đang yêu có những đặc điểm gì? Phải chăng thiên tính nữ là năng lượng bí ẩn tạo nên sức hấp dẫn cho toàn bộ thi phẩm?...

KIẾN THỨC CƠ BẢN

1. Vài nét về tác giả, tác phẩm

 a. Tác giả

+ Xuất thân: gia đình công chức, mồ côi mẹ từ nhỏ, ở với bà nội.

+ Con người:

- Thông minh, chân thành, nhân hậu.

- Nghị lực vượt lên những bất hạnh của tuổi thơ, những trắc trở của duyên phận và cuộc sống để yêu thương.

+ Phong cách nghệ thuật:

- Nhà thơ của hạnh phúc đời thường: tiếng thơ khao khát tình yêu, chi chút hạnh phúc đời thường bình dị.

- Cái tôi độc đáo: giàu vẻ đẹp nữ tính, thành thật, giàu đức hi sinh và lòng vị tha, khát vọng yêu chân thành, mãnh liệt gắn với cảm thức lo âu về sự phai tàn, đổ vỡ., cùng những dự cảm bất trắc.

 b. Tác phẩm

+ Xuất xứ: 1967, nhân chuyến đi thực tế ở vùng biển Điêm Điền (Thái Bình), in trong tập thơ Hoa dọc chiến hào.

+ Vị trí văn học sử: bài thơ tình nổi tiếng của Xuân Quỳnh, góp phần tạo nên vị trí “nữ hoàng thơ tình Việt Nam”.

+ Cảm nhận chung:

- Nhan đề: Sóng

• Hình tượng trung tâm của tác phẩm: sóng > nói về sóng, nói bằng sóng.

• Trong mối quan hệ với em: vừa song hành vừa chuyển hoá. Sóng chính là em, em chính là tình yêu: sóng = em = tình yêu. Sự sống của em và sóng chỉ thật sự cất nhịp khi tình yêu bắt đầu, còn em, còn sóng là còn yêu và ngược lại ( Nhưng biết yêu anh cả khi chết đi rồi).

• Hành trình của sóng và em: “Sóng không hiểu nổi mình/ Sóng tìm ra tận bể.”

- Vẻ đẹp của hình tượng: vừa truyền thống vừa hiện đại (Sóng gợi nhắc hình ảnh thuyền và bến - biểu trưng cho tình yêu trong ca dao nhưng ở bài thơ, người phụ nữ không bị động mà chủ động tự bạch, tự nhận thức để khao khát dâng hiến)

- Thể thơ: tự do 5 chữ > phù hợp với việc diễn tả cảm xúc như những con sóng miên man vô hồi vô hạn, lúc trầm tư dịu dàng lúc dạt dào dữ dội.

2. Phân tích văn bản

a.  4 khổ đầu: Băn khoăn và khát vọng

+ Khổ 1:

Dữ dội và dịu êm
Ồn ào và lặng lẽ
Sông không hiểu nổi mình
Sóng tìm ra tận bể

 - Sóng được đặc tả ở hai đối cực: “dữ dội” >< “dịu êm”, “ồn ào”><”lặng lẽ” > những trạng thái có thật của sóng ngoài tự nhiên.

- Tương quan sông - bể: tính chất mâu thuẫn

• Sông: không gian nhỏ, hẹp, hữu hạn,nông cạn

• Bể: không gian lớn, rộng, khoáng đạt, sâu sắc

> Băn khoăn và tìm cách giải đáp: không hiểu nổi mình, tìm ra tận bể > mượn một qui luật tự nhiên để biểu trưng cho những băn khoăn trong lòng mình. Nước sông tự bao đời vẫn đổ ra biển lớn. Sóng chủ động từ bỏ không gian nông cạn chật chội về với không gian rộng lớn vô hạn> khát khao vượt giới hạn nhỏ bé, vươn tới không gian rộng lớn hơn để lí giải chính mình của con người.

- Đặt trong tính sóng đôi của hình tượng sóng và em: trạng thái của sóng gắn với khí chất của người phụ nữ > luôn luôn hài hòa những đối cực (vừa khao khát mãnh liệt vừa trầm tư dịu dàng, vừa sôi nổi rộn rã vừa lặng lẽ âm thầm, thoắt ồn ào vui tươi thoáng đã chìm lắng sâu sa…), khát vọng giải mã chính mình của sóng cũng là khát vọng thành thực, khơi tìm bản chất tâm hồn mình của người con gái.

+ Khổ 2

Ôi con sóng ngày xưa
Và ngày sau vẫn thế
Nỗi khát vọng tình yêu
Bồi hồi trong ngực trẻ

- Thời gian: “ngày xưa” và “ngày sau” > tình yêu chạy theo chiều thời gian thăm thẳm vẫn mãi mãi tươi mới, mãi không hết “bồi hồi”

- Khám phá mới về sóng: tượng trưng cho sự bất diệt của tuổi trẻ và khát vọng tình yêu.

- Mượn qui luật tự nhiên để diễn tả một triết lí dung dị nhưng thấm thía về tình yêu và tuổi trẻ: còn tuổi trẻ là còn khát vọng, mà khát vọng yêu thương mãi còn tức là con người mãi trẻ trung. (so sánh với triết lí của Xuân Diệu: Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn/ Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại)

+ Khổ 3, 4

Trước muôn trùng sóng bể
Em nghĩ về anh, em
Em nghĩ về biển lớn
Từ nơi nào sóng lên?

Sóng bắt đầu từ gió
Gió bắt đầu từ đâu
Em cũng không biết nữa
Khi nào ta yêu nhau.

 - Chuỗi câu hỏi liên tiếp truy đến cùng nguồn gốc của song cũng chính là nguồn gốc của tình yêu.

 - Lí trí vận động “em nghĩ” (2 lần) nhưng bất lực “em cũng không biết nữa” > lời thú nhận thành thật, đáng yêu: không biết nguồn gốc của sóng, nguồn gốc của tình yêu

- Khái quát một điều sâu kín trong tình yêu: tình yêu gắn với đức tin, với cảm xúc mà lí trí bất lực. (liên hệ với Xuân Diệu: “Làm sao lí giải được tình yêu/ Có nghĩa gì đâu một buổi chiều/ Nó chiếm hồn ta bằng nắng nhạt/ Bằng mây nhè nhẹ gió hiu hiu…”

b. Khổ 5 - 6: Nhớ thương và chung thuỷ

+ Khổ 5:

Con sóng dưới lòng sâu
Con sóng trên mặt nước
Ôi con sóng nhớ bờ
Ngày đêm không ngủ được
Lòng em nhớ đến anh
Cả trong mơ còn thức

- Quan sát nhịp vỗ của sóng:

• Chìm (dưới lòng sâu) - nổi (trên mặt nước)

• Nhớ bờ - ngày đêm không ngủ

>Nhận xét

• Từ vận động bình thường của sóng, liên tưởng: sóng vì nhớ bờ mà vỗ miên man, vô hồi vô hạn, bất kể ngày đêm.

• Cách nói: dưới lòng sâu - trên mặt nước đã choán nỗi nhớ lên khắp chiều rộng chiều sâu của đại dương - nơi những con sóng mãi thao thức > chiều sâu, chiều rộng của nỗi nhớ, da diết và khắc khoải.

- Liên tưởng nỗi nhớ anh trong em: “cả trong mơ còn thức” > nếu sóng nhớ bờ cả ngày đêm thì nỗi nhớ của em còn vượt mọi giới hạn thời gian, không gian, tràn cả vào chiều sâu của vô thức > nỗi nhớ lắng đọng da diết nhất, sâu kín nhất > nhớ anh là sự sống của trái tim em.

- Hình thức: khổ thơ duy nhất có 6 câu: tăng thêm dung lượng ngôn từ để diễn đạt trọn vẹn hơn nỗi nhớ > nỗi nhớ tràn bờ, phá vỡ mọi giới hạn câu chữ > giống như con sóng nhớ thương bồi mãi, điệp mãi, dềnh lên mãi, vỗ tràn cả thi ca.

+ Khổ 6:

Dẫu xuôi về phương bắc
Dẫu ngược về phương nam
Nơi nào em cũng nghĩ
Hướng về anh – một phương.

- Vận động của sóng: phong phú, nhiều chiều (xuôi bắc - ngược nam) nhưng nhất phiến (hướng về anh một phương)

- Khẳng định tấm lòng sắc son, như nhất.

- Đến đây, sóng và em đã hoà làm một.

c. Khổ 7 - 8: Lo âu phấp phỏng

Ở ngoài kia đại dương
Trăm ngàn con sóng đó
Con nào chẳng tới bờ
Dù muôn vời cách trở
Cuộc đời tuy dài thế
Năm tháng vẫn đi qua
Như biển kia dẫu rộng
Mây vẫn bay về xa

 - Hành trình vượt khó khăn để tới bờ của sóng: “muôn vời cách trở”, nhưng “con nào chẳng tới bờ”

- Dự cảm lo âu phấp phỏng: “Như biển kia dẫu rộng/ Mây vẫn bay về xa”> cái đa cảm của trái tim phụ nữ.

d. Khổ 9: Ước nguyện dâng hiến, khát vọng bất tử

Làm sao được tan ra
Thành trăm con sóng nhỏ
Giữa biển lớn tình yêu
Để ngàn năm còn vỗ.

+ Số từ: trăm – ngàn.

+ Ước nguyện chân thành, lớn lao: muốn hoá thân vào sóng, đại dương để được bất tử bởi chỉ thiên nhiên mới vĩnh viễn trường cửu > vượt qua giới cái hữu hạn của đời người, khát vọng hoá thân vào thiên nhiên để bất tử hoá tình yêu.

+ Lí giải bản lĩnh của sóng ở đoạn đầu tiên “Sông không hiểu nổi mình/ Sóng tìm ra tận bể”: bởi sóng mang trong mình khát vọng nhận thức và khát vọng yêu thương mãnh liệt.

> Nhận xét:

• Vẻ đẹp tình yêu, tâm hồn, thơ Xuân Quỳnh: thuỷ chung, dịu dàng, chân thật mà mãnh liệt, khao khát.

• Nét truyền thống và hiện đại: vẫn mang những nét đẹp truyền thống nhưng tâm thế hoàn toàn hiện đại- vẻ đẹp của trí tuệ - tự nhận thức và khát vọng hiến dâng bất tử (so sánh với hình ảnh người phụ nữ trong ca dao: “Thân em như hạt mưa rào…”)

CỦNG CỐ KIẾN THỨC

Đề 1: Bình giảng một trong các đoạn thơ sau:

Trước muôn trùng song bể
Em nghĩ về anh em
Em nghĩ về biển lớn
Từ nơi nào song lên

Sóng bắt đầu từ gió
Gió bắt đầu từ đâu
Em cũng không biết nữa
Khi nào ta yêu nhau.

Con sóng dưới lòng sâu
Con sóng trên mặt nước
Ôi con sóng nhớ bờ
Ngày đêm không ngủ được

Lòng em nhớ đến anh
Cả trong mơ còn thức.
Làm sao được tan ra
Làm trăm con song nhỏ
Giữa biển lớn tình yêu
Để ngàn năm còn vỗ.

Đề 2: Phân tích hình tượng sóng trong bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh. Anh (chị) cảm nhận gì về vẻ đẹp tâm hồn người phụ nữ trong tình yêu qua hình tượng này?

Đề 3: Mối quan hệ giữa hình tượng “sóng” và “em” trong Sóng.

Đề 4: Đặc điểm tâm hồn người phụ nữ đang yêu trong Sóng.

Đề 5: Bài thơ “Sóng” gợi cho anh chị những suy nghĩ gì về tình yêu?

Đề 6: So sánh bài thơ “Sóng” (Xuân Quỳnh) và “Biển” (Xuân Diệu)

Biển (Xuân Diệu)

Anh không xứng là biển xanh
Nhưng anh muốn em là bờ cát trắng
Bờ cát dài phẳng lặng
Soi ánh nắng pha lê

Anh xin làm sóng biếc
Hôn mãi cát vàng em
Hôn thật khẽ thật êm
Hôn êm đềm mãi mãi

Đã hôn rồi hôn lại
Cho đến mãi muôn đời
Đến tan cả đất trời
Anh mới thôi dào dạt

Cũng có khi ào ạt
Như nghiến nát bờ em
Là lúc triều yêu mến
Ngập bến của ngày đêm

Anh không xứng là biển xanh
Nhưng cũng xin làm bể biếc
Để hát mãi bên ghềnh
Một tình chung không hết

Để những khi bọt tung trắng xóa
Và gió về bay tỏa nơi nơi
Như hôn mãi ngàn năm không thỏa
Bởi yêu bờ lắm lắm, em ơi!

Gợi ý giải đề:

Đề 1:

+ Phân tích đề:

- Nội dung: cái hay trong nội dung và hình thức nghệ thuật của một đoạn thơ.

- Hình thức: bình giảng.

+ Hướng dẫn:

Ở đề bài này, các em có thể dựa vào phần Kiến thức cơ bản để phân tích, bình giá những đặc sắc nghệ thuật hay nội dung mà mình tâm đắc.

Cấu trúc một bài bình giảng như sau:

- Khái quát:

• Vị trí bài thơ

• Khái quát giá trị đoạn thơ.

- Bình giảng

• Nhan đề, cấu tứ.

•  Giảng, bình.

Đề 2:

+ Phân tích đề:

- Nội dung: hình tượng sóng > vẻ đẹp tâm hồn người phụ nữ trong tình yêu.

- Hình thức: phân tích cụ thể.

+ Hướng dẫn:

- Phân tích hình tượng sóng:

Phân tích dựa trên phần kiến thức cơ bản.

- Mối quan hệ giữa “sóng” và “em”

- Vẻ đẹp tâm hồn phụ nữ trong tình yêu:

• Băn khoăn và trăn trở > tự nhận thức, tự lí giải cảm xúc yêu đương > vẻ đẹp của trí tuệ, sự chủ động.

• Nỗi nhớ da diết.

• Lòng thuỷ chung.

•  Dự cảm, lo âu, phấp phỏng.

•  Ước nguyện hiến dâng và khát vọng bất tử.

- Nét đặc sắc về nghệ thuật:

• Sự liên tưởng hợp lí, tự nhiên giữa đặc điểm của sóng và đặc điểm của người con gái đang yêu. Sự liên tưởng này tạo nên cặp hình tượng sóng đôi, bổ sung, đắp đổi cho nhau

• Câu thơ năm chữ: với những câu ngắn, đều nhau > gợi hình dung những con sóng tự nhiên miên man vô hồi vô hạn, đồng thời là những con sóng lòng dạt dào trăn trở.

• Nhịp các câu thơ: đa dạng, mô phỏng cái biến hoá của nhịp sóng, nhịp cảm xúc: 2/3 (dữ dội và dịu êm - Ồn ào và lặng lẽ). 1/2/2 (sông không hiểu nỗi mình - sóng tìm ra tận bể), 3/1/1 (Em nghĩ về anh, em), 3/2 (Em nghĩ về biển lớn - từ nơi nào sóng lên),v.v..

• Các cặp câu đối xứng: xuất hiện liên tiếp, câu sau bồi câu trước, tựa như những đợt sóng xô bờ.

• Tính nữ trong cái nhìn và cách diễn đạt hình tượng sóng: dịu dàng đằm thắm nhưng cũng thật dữ dội.( em cũng không biết nữa, ôi…)

Đề 3 và đề 4:

+ Là 2 phần nhỏ của đề 2, nhưng phân tích ở mức độ sâu sắc và cụ thể hơn

+Đề3:  Phân tích mối quan hệ giữa sóng và em:

- Nhận xét khái quát: từ nhan đề và cấu tứ của bài thơ > mối quan hệ song hành và chuyển hoá của hai hình tượng > thống nhất trong một chủ thể trữ tình (tác giả)

-  Phân tích: hành trình của “sóng” và “em” trong bài thơ (ý trọng tâm)

Dựa vào kiến thức cơ bản để phân tích theo chiều dọc bài thơ, tuy nhiên cần đặc biệt chú ý sự chuyển hoá của hai hình tượng.

- Hai hình tượng chuyển hoá cho nhau làm nỏi bật vẻ đẹp tâm hồn người phụ nữ trong tình yêu (phân tích tổng hợp- khái quát)

+ Đề 4: Đặc điểm tâm hồn người phụ nữ đang yêu

- Hình ảnh người phụ nữ đang yêu được biểu đạt bằng hai hình tượng song hành và chuyển hoá: sóng và em> phân tích hình tượng sóng và em sẽ thấy được vẻ đẹp tâm hồn người phụ nữ đang yêu.

- Phân tích hình tượng “sóng” và “em” để thấy vẻ đẹp tâm hồn người phụ nữ đang yêu.

- Nhận xét, bình giá.

Đề 5:

+ Phân tích đề:

- Nội dung: Quan niệm về tình yêu  > vấn đề xã hội khơi gợi từ  một bài thơ

- Hình thức: nghị luận.

+ Hướng dẫn:

Đây là đề nghị luận mở. Hs có thể xây dựng luận điểm dựa vào bài thơ hay tự hình thành luận điểm.

Đề 6:

+ Phân tích đề:

- Nội dung: nội dung và nghệ thuật hai bài thơ “Sóng” và “Biển” qua cái nhìn so sánh.

- Hình thức: so sánh, phân tích (điểm giống và điểm khác)

+ Hướng dẫn:

- Khái quát:

• Vị trí VHS của Xuân Quỳnh và Xuân Diệu:

o Đều là những nhà thơ tình nổi tiếng của Việt Nam, có những bài thơ tình đằm thắm và chân thành.

o Nếu Xuân Diệu là “ông hoàng” thì Xuân Quỳnh là “nữ hoàng” của thơ tình Việt Nam bởi khí chất thơ ca khác nhau. Tuy nhiên, cả hai cùng đi về một khát vọng yêu đương mãnh liệt, tạo nên những khúc tình ca bất hủ trong văn học.

•  Vị trí văn học sử của “Sóng” và “Biển”

o Là những tình ca bất hủ trong sự nghiệp sáng tác của hai nhà thơ nói riêng của thơ tình Việt Nam nói chung.

o Tiêu biểu cho phong cách thơ tình cũng như bản chất tâm hồn của mỗi nhà thơ.

- So sánh:

• Giống nhau:

Thể thơ: tự do> gợi hình thể, nhịp vỗ của từng con sóng tự nhiên và con sóng lòng dạt dào

Hình tượng: sóng, biển

Quen thuộc: gợi nhớ đến những biểu tượng tình yêu trong ca dao.

Đều là những hình tượng động: biến đổi, phong phú ở nhiều trạng thái > vừa diễn tả những cung bậc cảm xúc của tình yêu vừa phù hợp với việc diễn tả tâm thế và tư thế chủ động chiếm lĩnh tình yêu của người con trai và người con gái.

Mượn hiện tượng tự nhiên để bất tử hoá cảm xúc, trường cửu hoá tình yêu và khát vọng yêu thương.

Khác:

Khác nhau trong vẻ đẹp tình yêu: đều là khao khát mãnh liệt nhưng Sóng mang vẻ đẹp tình yêu con gái còn Biển mang vẻ đẹp tình yêu con trai.

Sóng: băn khoăn, thuỷ chung, lo âu, phấp phỏng, hi sinh, dâng hiến > chiều sâu là nỗi nhớ.

Biển: ào ạt, dữ dội, có khi chiếm đoạt > linh hồn của tình yêu là nụ hôn mang màu sắc nhục cảm.

- Cơ sở của sự giống và khác nhau:

Giống:

Bản chất con người nhà thơ: đều khao khát yêu thương từ nhỏ >  viết về tình yêu chủ động và đầy khao khát.

Đều tiếp được uống ngụm suối nguồn văn hoá dân gian > ảnh hưởng khi xây dựng hình tượng

Khác nhau:

Bản chất tình yêu của người con gái và người con trai

Phong cách nghệ thuật.

Đỗ Thị Thuý Dương
Giáo viên Hocmai.vn

Video đang được xem nhiều

Cùng chuyên mục

Xem thêm Giáo dục

Cùng chủ đề

Mới - Nóng

Khám phá