Sinh viên không hào hứng làm đồ án tốt nghiệp: Vì sao?

Sau Tết là thời điểm sinh viên năm cuối bắt tay vào làm đồ án tốt nghiệp (TN). Tuy nhiên, một số SV không mấy hào hứng với việc này.

Nguyên nhân dẫn đến hiện tượng trên được SV giải thích là số học trình được tính cho mỗi đồ án không tương xứng với công sức bỏ ra khi làm đồ án.

B.T là SV năm thứ 5 khoa Xây dựng Đại học Kiến trúc Hà Nội (ĐH KTHN). Kết quả học tập sau gần 5 năm học của B.T ước đạt điểm bình quân 6,77. Tuy nhiên, trước mắt B.T vẫn còn một khoảng thời gian dài 14 tuần để thực hiện đồ án TN. Đó là thời kỳ mà B.T cũng như tất cả mọi SV làm đồ án TN khác xác định phải “đầu tư” về trí tuệ cũng như về công sức và tài chính.

Về mặt trí tuệ và công sức thì các SV không mấy bận tâm vì học tập và nghiên cứu là “nghĩa vụ” của họ. Gay go nhất là khoản “đầu tiên”.

Không chỉ những SV con nhà nghèo mà cả những SV diện “trung lưu” như B.T đã dự cảm trước được những thời điểm “méo mặt” bởi những khoản tiền phải lo. Đơn cử một ví dụ nhỏ: tiền in các bản vẽ. Giá in một bản in cỡ A1 là 6000 đồng.

Cụ thể là với đề tài của B.T, lúc bảo vệ đồ án B.T phải hoàn thiện 15 – 20 bản vẽ. Trong quá trình hoàn thiện là rất nhiều lần huỷ bản vẽ cũ, in bản vẽ mới sau mỗi lần thông bài (nộp kết quả cho GV hướng dẫn xem và góp ý).

Tất nhiên, rốt cục mọi việc cũng sẽ đâu vào đấy. Ngày bảo vệ, SV nào mà chẳng mặt tươi roi rói! Vậy mà tâm trạng của B.T cũng như một số SV khác có vẻ uể oải.

B.T cho biết: “Tôi biết chắc chắn rằng, không bao giờ tôi đạt kết quả TN loại khá được. Muốn bằng loại khá, điểm trung bình 5 năm học của SV phải từ 7,0 đến cận 8,0. Giả sử tôi rất nỗ lực và phát tiết được tài năng nên đồ án của tôi đạt điểm 10. Nhưng vì số học trình của một đồ án chỉ là 15 – một tỉ lệ quá nhỏ nhoi so với 272 học trình đã học – nên điểm trung bình của tôi cũng chỉ đạt khoảng 6,94”.  

Tâm trạng của B.T cũng là tâm trạng chung của nhiều SV một số trường ĐH ngành kỹ thuật khác trên địa bàn thành phố HN. Theo quy chế về tổ chức đào tạo, kiểm tra, thi và công nhận tốt nghiệp ĐH, CĐ hệ chính quy (Bộ GD&ĐT ban hành tháng 2/1999) thì “đồ án, khoá luận TN được coi là học phần có khối lượng không quá 20 đơn vị học trình”.

Hiệu trưởng là người có quyền quy định khối lượng cụ thể phù hợp với yêu cầu đào tạo của trường mình. Như trường ĐH KTHN thì đồ án chỉ ngang với 15 trình. Ngay cả những trường quy định khối lượng học trình của đồ án “kịch trần” quy chế cho phép thì SV cũng thấy như thế là “quá bèo”.

Một SV (xin được giấu tên) trường ĐH Thuỷ lợi nói: “Số đơn vị trình đó không tương xứng với những gì SV phải đầu tư cho đồ án TN. Chỉ vì số điểm còn hạn chế của một số môn chung và những môn không chuyên ngành mà SV phải chịu kết quả TN thấp thì đó là một cách đánh giá không công bằng”.

Thực tế trên không chỉ không khuyến khích SV dồn tâm huyết vào việc làm đồ án mà ảnh hưởng tới tinh thần ngay cả giảng viên hướng dẫn. SV một trường ĐH ngành xây dựng kể: “Tôi định chọn đề tài là kết cấu một toà nhà lớn. Nhưng GV khuyên tôi là nên chọn một cái nhỏ hơn. Theo thầy, với một công trình nhỏ SV sẽ dễ dàng đạt điểm 8. Nếu chọn công trình lớn, SV rất vất vả mới đạt 9 điểm. Trong khi đó điểm 9 ấy lại chẳng thay đổi được giá trị văn bằng!”.

Ý kiến của các giảng viên và cán bộ đào tạo:

PGS TS Vương Văn Thành (Phó chủ nhiệm khoa Xây dựng, ĐH KTHN): Cách tính số lượng đơn vị học trình mà Bộ GD&ĐT quy định với đồ án TN của SV có thể phù hợp với ngành này mà không phù hợp với ngành khác. Với trường tôi thì cách tính này khá thiệt thòi với SV.

Đồ án TN có ý nghĩa tổng hợp và tập dượt tay nghề lớn nhất đối với SV. Vậy mà đánh giá so với quá trình học thì tỷ lượng không đáng kể lắm.

Chúng tôi vẫn động viên SV rằng công sức của người học bỏ ra bao giờ cũng là được. Những nỗ lực của SV trong quá trình học tập là hành trang tốt nhất cho các em sau khi ra trường chứ không chỉ vì thành tích, vì điểm.

Ông Hoàng Thắng (Phó phòng Đào tạo ĐH, ĐH BKHN): Đồ án TN là công trình nghiên cứu khoa học nhỏ của SV. Khi chúng tôi tính khối lượng công việc mà giảng viên thực hiện để hướng dẫn SV làm đồ án thì tính 15 trình.

Nhưng công lao SV bỏ ra và khối lượng kiến thức mà họ làm được chúng tôi đánh giá lớn. Đồ án thể hiện một cách tổng hợp kiến thức SV đã học, ngoài ra còn là khả năng vận dụng vào thực tế.  

Còn 1 học kỳ đầy vất vả nữa với các SV năm cuối trường kỹ thuật nhưng ở thời điểm này, giá trị văn bằng của họ nói chung đã được “an bài”. “Xót xa” nhất là những SV đến nay có điểm trung bình xấp xỉ các ngưỡng xếp loại trung bình khá, khá, giỏi. Họ hầu như không có cơ hội để lên được khá, giỏi, xuất sắc.

Hiện nay, đạt loại khá ở lớp của B.T có 7 người (sĩ số 50 người) nhưng chẳng ai trong số đó có hy vọng “lên bằng”. SV đạt điểm trung bình khá nhiều hơn một chút và chỉ duy nhất một người (điểm trung bình hiện tại là 6,9) có hy vọng đạt bằng khá nếu đồ án được 9 điểm.

B.T nói: “Xác định học là để cho tương lai sau này của mình nên tôi sẽ không làm đồ án theo kiểu đối phó. Nhưng dù sao tôi cũng rất buồn”.

Có thể khi soạn thảo quy chế, các nhà quản lý muốn việc đánh giá SV phải toàn diện. Tuy nhiên, trên thực tế, sự “toàn diện” ấy dường như có khoảng cách với sự công bằng trong thực tế đào tạo hiện nay. Đó phải chăng là một lý do để một trường ĐH uy tín hàng đầu như ĐH Bách khoa HN không áp dụng (hay nói đúng hơn là không “tuân thủ”) quy chế?

Quả vậy, sau một thời gian thực hiện quy chế nói trên của Bộ GD&ĐT, hiện nay trường ĐH BKHN đã trở lại cách tính điểm tốt nghiệp theo hệ số: kết quả trung bình các môn không chuyên ngành (ĐH đại cương) hệ số 1,5; chuyên ngành hệ số 2; đồ án hệ số 1. Điểm tốt nghiệp của SV là 3 kết quả đó nhân lên (theo hệ số) rồi cộng lại chia cho 4,5.

PGS TS Dương Đức Hồng – Trưởng phòng Đào tạo ĐH, ĐH BKHN – nói: “Cách tính kết quả tốt nghiệp như hiện nay của chúng tôi không hẳn là tối ưu. Tuy nhiên, chúng tôi cần phải tính như vậy để không quá thiệt thòi cho SV”.

Nhưng không phải trường nào cũng “bản lĩnh” như trường ĐH BKHN. Người thiệt thòi rốt cục vẫn là SV trong khi giá trị văn bằng chưa hẳn đã thực chất.  

Video đang được xem nhiều

Cùng chuyên mục

Xem thêm Giáo dục

Mới - Nóng

Khám phá