Trẻ con được sinh ra từ... nách

TP - Kết quả nghiên cứu xã hội học ở hai trường THPT tại TPHCM là THPT Gia Định và THPT Nguyễn Huệ cho kết quả bất ngờ: Có nhiều học sinh vẫn hồn nhiên trả lời: “Trẻ con được sinh ra từ… nách”!

Giáo dục giới tính và Sức khỏe sinh sản, theo các chuyên gia, cần được tăng cường hơn nữa trong trường phổ thông

Đây là nội dung đề tài nghiên cứu xã hội học của sinh viên khoa Xã hội học lớp K10 vừa được giải nhì cấp trường ĐHKHXH&NV TPHCM, đang trình lên cấp Bộ và tranh giải Eureka Thành Đoàn TPHCM.

Sinh con từ... nách và lỗ rốn!

Nhóm nghiên cứu đã khảo sát tất cả 173 mẫu, trong đó có 76 nam (43,9%) và 96 nữ (55,5%). Tất cả các mẫu nghiên cứu đều nằm trong lứa tuổi từ 17-18 tuổi. Trong số đó, các học sinh hiện đang ở với gia đình chiếm đến 94,2%.

Trong những câu hỏi được đặt ra trong bản nghiên cứu này, đáng chú ý nhất là câu hỏi tưởng chừng rất đơn giản: “Phụ nữ sinh con theo đường nào?”.

Kết quả như sau: 40 học sinh (23,1%) của hai trường THPT có tiếng là hiện đại tại TPHCM cho rằng trẻ con được sinh ra từ hậu môn, 17 học sinh (9,8%) hoàn toàn không biết. Ngạc nhiên hơn nữa là có 1 học sinh (0,6%) cho rằng trẻ con được sinh ra từ… rốn!

Đặt những câu hỏi để tìm hiểu nguyên nhân của những suy nghĩ này, nhóm nghiên cứu liên tục nhận được các câu trả lời rất ngô nghê.

Tiêu biểu như: “Em nghĩ là người phụ nữ sinh con qua đường hậu môn, vì… âm đạo quá nhỏ làm sao mà em bé chui lọt được” (biên bản thảo luận nhóm nữ trường THPT Nguyễn Huệ).

Nhiều học sinh khác còn trả lời hết sức thật thà: “Hồi nhỏ mẹ em nói trẻ con được sinh ra từ nách! Ngay đến bây giờ em cũng không biết trẻ con sinh ra bằng đường nào. Mẹ em nói khi nào lớn sẽ biết” (biên bản thảo luận nhóm nữ trường THPT Nguyễn Huệ).

Liên quan đến sự hiểu biết về các biện pháp tránh thai, kết quả cho thấy vẫn còn khá nhiều học sinh không biết gì về việc này.

Như lời nhận xét khá thẳng thắn của một học sinh nữ: “Theo em biết thì có thể dùng thuốc tránh thai, bao cao su.

Lúc trước em cũng không biết sử dụng thế nào, sau này biết cách sử dụng là nhờ được tập huấn để đi tuyên truyền, phát bao cao su cho nhà dân một lần, còn các phương pháp khác em chỉ nghe nói thôi chứ không biết thế nào.

Nhưng em còn may mắn hơn các bạn khác. Các bạn ấy còn không biết cách sử dụng bao cao su…”.

Vì đâu nên nỗi?

Các tác giả của đề tài nghiên cứu cũng đưa ra một quan điểm về việc những học sinh được khảo sát trên còn quá lơ mơ về sức khỏe sinh sản: Thực tế nước ta chỉ mới tập trung trang bị kiến thức cho đối tượng là những người đã kết hôn.

Các học sinh vị thành niên chưa kết hôn không được tiếp xúc rộng rãi với những thông tin về sức khỏe sinh sản cũng như có điều kiện tiếp cận với những người tư vấn về sức khỏe sinh sản.

Bởi thế, hậu quả của việc thiếu hiểu biết như phá thai, bị lạm dụng tình dục hay các bệnh lây qua đường tình dục… ngày càng tăng. Chỉ tính riêng hai tuần đầu của tháng 1/2007, ở Việt Nam đã có tất cả 248 ca nạo phá thai, trong đó có 21% dưới 18 tuổi.

Trả lời về vấn đề này, một giáo viên trường THPT Gia Định cho biết: “Các em biết về sức khỏe sinh sản không nhiều, theo tôi là vì chương trình học trên nhà trường quá ít. Trong khi đó, phương tiện truyền thông đại chúng rất ít khi được học sinh tìm đến ngoại trừ khi gặp rắc rối”.

Nhiều giáo viên khác đều cho rằng: “Các em học sinh bây giờ đa phần đều tìm hiểu trên sách báo. Nhưng đôi khi việc tìm hiểu của các em không chính xác lắm nên các em thường mắc phải những sai lầm đáng tiếc”.

Các tác giả đề tài cũng đã đi tìm câu trả lời từ rất nhiều khía cạnh. Kết quả: Có 40,5% học sinh tìm câu trả lời từ các báo và tạp chí; 39,3% học sinh tìm hiểu thông tin qua trao đổi với bạn bè.

Theo các tác giả, điều này cho thấy việc giáo dục sức khỏe sinh sản cho các em từ phía gia đình và nhà trường còn quá lỏng lẻo và ít ỏi. Các em phải tự tìm tòi, khám phá và rất dễ dẫn đến những hiểu biết sai lệch.

Cụ thể, trong tất cả các đối tượng học sinh được hỏi, có 55% chưa bao giờ hỏi nhà thuốc, 45,1% chưa bao giờ tìm câu trả lời từ các trung tâm y tế, 35,8% chưa bao giờ hỏi thầy cô giáo, 34,2% chưa bao giờ hỏi anh chị em và có đến 26% cho sinh không bao giờ chia sẻ điều này với chính cha mẹ mình.

Nghiên cứu cho thấy với tâm lý người Á Đông, đa số các em học sinh đều cho rằng mình rất ngại ngùng khi chia sẻ điều này với gia đình. Ngay cả nhiều phụ huynh cũng cho biết sẽ quản con cái thật chặt, chuyện sức khỏe sinh sản để tự con mình lớn lên sẽ hiểu!

Thậm chí, có phụ huynh còn thẳng thắn phát biểu: “Tôi hoàn toàn bác bỏ việc đưa giáo dục giới tính vào trường học. Tôi nghĩ nên để cho lớp trẻ tập trung học văn hóa trước đã, sau lớp 12 giáo dục cũng không muộn.

Nếu đem giáo dục giới tính vào trường ngay lúc này là hoàn toàn vô lý, nó sẽ tạo cho bọn trẻ hư đốn, khác gì “vẽ đường cho hươu chạy (?!)”.

Trong khi đó, khảo sát trên 172 em học sinh lớp 12 tại hai trường THPT trên cho thấy, 54 em thừa nhận là đã có người yêu và bày tỏ rằng mình rất mong muốn được tìm hiểu kỹ kiến thức về tâm lý, về tình yêu và sức khỏe sinh sản.a

Đã đến lúc xã hội phải thay đổi quan niệm

TP - Giảng viên Vũ Toản - khoa Xã hội học - ĐH KHXH&NV TPHCM là người đã trực tiếp hướng dẫn cho đề tài nghiên cứu khoa học “Thực trạng và những tác nhân ảnh hưởng đến kiến thức, hành vi, thái độ của học sinh lớp 12 về vấn đề sức khỏe sinh sản” của sinh viên lớp K10 khoa Xã hội học (ĐHKHXH&NV TPHCM).

Trước sự băn khoăn của PV về tính xác thực của kết quả nghiên cứu, ông cho biết:

Tôi thấy một mâu thuẫn là trong thời đại bùng nổ thông tin, các phương tiện thông tin đại chúng đã đề cập rất kỹ vấn đề sức khoẻ sinh sản, nhưng hàng năm các ca nạo phá thai tuổi vị thành niên tiếp tục tăng và dường như không thể kiểm soát nổi.

Vì thế, khi các em xin phép nghiên cứu đề tài này, tôi rất ủng hộ. Đây là môi trường để vận dụng lý thuyết, nhưng vấn đề khá nhạy cảm cần đưa ra con số cụ thể.

Là người từng tiếp xúc về vấn đề này nhiều, ông có thể đưa ra một lý do giải thích cho việc ngay giữa TPHCM tràn ngập thông tin, vẫn có nhiều em học sinh trung học hầu như không có kiến thức gì về sức khỏe sinh sản?

Cứ cho là các phương tiện truyền thông bao phủ rộng khắp và đi sâu vào mỗi cá thể, nhưng rất nhiều trong số các cá thể này không thể kiểm chứng và hiểu hết mọi điều đó được.

Có nhiều trẻ sinh ra trong môi trường bị áp lực rất thụ động, cha mẹ không quan tâm và các em cũng không quan tâm đến vấn đề này. Khi đề cập đến những vấn đề “nhạy cảm” như quan hệ tình dục, sức khoẻ sinh sản…, cha mẹ chỉ biết cấm đoán các con một cách máy móc.

Ngay trong thành phố hiện đại, tràn ngập thông tin, vậy mà nhiều học sinh trung học mang bầu mà không biết là mình mang bầu, đến khi cái thai quá lớn  thì không thể làm gì được nữa. Ngộ nhận đến thế là cùng!

Đã đến lúc cả xã hội phải thay đổi quan điểm, nhìn thẳng vào vấn đề này.

Video đang được xem nhiều

Cùng chuyên mục

Xem thêm Giáo dục

Mới - Nóng