Gùi chữ lên cao nguyên M Ð’rắk

Thầy cô giáo đi bè để vào trường dạy
Thầy cô giáo đi bè để vào trường dạy
TP - Giữa muôn trùng đồi núi, trên những thôn bản xa, nhiều thầy cô giáo yêu nghề mến trẻ vẫn ngày ngày vượt hàng trăm cây số, chấp nhận xa gia đình gùi chữ lên cao nguyên M Ð’rắk.

Ám ảnh đường đến trường

Cuối tháng 2, chúng tôi rời TP Buôn Ma Thuột nhộn nhịp đang vào mùa lễ hội để lên cao nguyên M Đ’rắk thấm thía cùng thầy cô bám trường dạy chữ. Gần 3 giờ vượt nắng vượt gió, ngôi trường Tiểu học Bùi Thị Xuân thuộc xã vùng 3 đặc biệt khó khăn của huyện M Đ’rắk nằm hút sâu trong rừng già dần hiện ra giữa làn sương mờ ảo.

Cô Hoàng Thị Huệ, có thâm niên hơn 10 năm “gieo chữ” cho hay: Cuộc sống của cô trò bây giờ đã đỡ hơn thời mới đặt chân đến thiếu thốn trăm bề. Không điện, không nước, không sóng điện thoại… Cư San ngày ấy như tách biệt với thế giới bên ngoài. Thứ ánh sáng duy nhất soi rọi con chữ là ánh đèn dầu lay lắt. Vào mùa mưa bão thôn làng chìm trong bóng tối, giáo viên phải tranh thủ soạn bài giảng trước khi “gà nhảy lên chuồng”. Để có nước sinh hoạt, giáo viên xin theo dân leo tít lên đồi khoét ao trữ nước rồi chặt ống tre dẫn nước về dùng. Mùa nắng, nguồn nước khô cạn, thầy cô phải thay phiên nhau lên núi vét từng giọt nước nấu ăn, tắm giặt.. rất vất vả.

Bây giờ điện, nước đã đầy đủ, chỉ có con đường vào trường vẫn luôn là nỗi ám ảnh với các thầy cô. Cô Huệ ví Cư San như một “ốc đảo” bao phủ bởi đồi cao suối sâu. Muốn vào trường, giáo viên phải vượt 40 cây số đường đất đi từ trung tâm huyện vào hoặc băng rừng hàng chục cây số qua xã Krông Á, xã Cư Pông (huyện Ea Kar) rồi vượt con suối dữ bằng chiếc bè tạm.

Đường nào cũng xa xôi, hiểm trở và mùa nào giáo viên cũng cược mạng với tử thần. Mùa khô, họ trổ tài “tay lái lụa” lách qua các hố voi, hố gà như những “chiếc bẫy” tàng hình dưới trời nắng gắt, nếu không cẩn thận sẽ rơi xuống vực sâu. Mùa mưa lũ, các tuyến đường vào trường đều chìm trong nước, chỉ còn cách vượt suối bằng bè tạm kết từ thân chuối đặt trên chiếc thùng phuy nổi lơ lửng giữa dòng nước xiết.

Gùi chữ lên cao nguyên M Ð’rắk ảnh 1

Cô Phương hướng dẫn cách làm bài cho học sinh 

Cô Huệ nhớ lại: Mùa mưa 2011, cô cùng đồng nghiệp lên bè vượt suối. Mới qua được một đoạn, nước suối bất ngờ trôi xoáy dữ dội làm bè chao đảo. Rất may có các thầy giáo dùng sức kéo mạnh sợi dây thừng (được cố định ở hai đầu suối) để vào bờ an toàn. Không riêng cô Huệ mà các giáo viên trường Tiểu học Bùi Thị Xuân đều phải đánh cược mạng sống để đến trường. Tuy chưa có trường hợp đáng tiếc xảy ra nhưng chuyện té ngã, bầm dập… xảy ra như cơm bữa. Để tránh hiểm nguy, khi vào mùa mưa các thầy cô chọn cách ở lại trường...

Yêu sao ánh mắt học trò

Vất vả, hiểm nguy là vậy song vì tình yêu nghề cùng sự hồn nhiên say mê con chữ của trò nghèo người Mông đã níu chân bao thầy cô giáo. Tốt nghiệp trường Cao đẳng Sư phạm Đắk Lắk năm 2015, thầy Khúc Thừa Tú (giáo viên lớp 5C) được phân công về trường Tiểu học Bùi Thị Xuân. Dẫu biết dạy ở vùng sâu, mọi thứ sẽ khó khăn, thiếu thốn nhưng ngày đầu về trường, thầy Tú vẫn “choáng”. Thầy kể: Lần đầu về trường đúng vào mùa mưa, đường sình lầy đi không nổi. Thấy phía trước có mấy giáo viên cũng đang vật lộn với bùn đất, thầy đi theo. Hơn 2 giờ vừa đi vừa đẩy xe, thầy mới tới trường. Những ngày đầu bỡ ngỡ, được các anh chị đồng nghiệp động viên, giúp đỡ, thầy Tú dần quen với cuộc sống nơi đây. Nhìn bọn trẻ lấm lem hồn nhiên cắp sách đến trường, thầy yêu mến chúng đến lạ.

Hơn 5 năm bám trường gieo chữ vùng sâu, thầy Tú luôn trăn trở, tìm cách “kéo” học sinh bỏ học giữa chừng quay lại lớp. Có nhiều gia đình khó khăn, hay bắt con em ở nhà đi rẫy, thầy phải đến tận nhà vận động phụ huynh. Có nhà hiểu chuyện cho con đi học lại, có người cố chấp khiến thầy buồn lòng. Một trong những trường hợp thầy Tú chăm sóc đặc biệt là em Trọ A Sàng (SN 2006). Sàng là con thứ 3 trong gia đình có 10 anh chị em đang tuổi đến trường. Nhà nghèo lại đông con nên cứ vào vụ gieo trồng hay thu hoạch gia đình lại bắt em nghỉ học. Kiên trì “mưa dầm thấm lâu”, thầy Tú cũng đưa được em Sàng trở lại học, đến nay đã học tới lớp 5.

Cũng có trường hợp phụ huynh thiếu hiểu biết xúc phạm khiến các thầy cô giáo phiền lòng, như trường hợp cô Phạm Thị Dung (giáo viên lớp 3B) gặp phải. Cô Dung kể: Hôm cô mang khung ảnh lên lớp dạy học thì bị một nam học sinh Thào Seo Chính tinh nghịch làm vỡ. Sợ cô giáo phạt, Chính không chịu đến trường. Cô Dung đến nhà tìm hiểu thì bị phụ huynh la chửi, bắt cô đền tiền vì làm cho con họ bỏ nhà đi. May có thầy cô giáo trong trường và trưởng thôn đứng ra phân tích, vị phụ huynh mới hiểu chuyện, không làm khó cô giáo, tiếp tục cho con đến trường. Nỗi buồn qua đi, cô Dung lại say sưa đứng trên mục giảng, xem sự cố đã qua là thử thách giúp trưởng thành hơn trong công việc và cuộc sống.

Học cùng trường và về dạy cùng đợt với thầy Tú là cô Lưu Thị Phương (SN 1994 - giáo viên lớp 3C) luôn được học sinh yêu mến bởi giọng nói nhỏ nhẹ, ấm áp. Nhà cô Phương ở trung tâm huyện M Đ’rắk, cách trường 40 cây số nhưng do đường khó đi nên cô thường ở lại, cuối tuần mới về. Cô hay vận động gia đình người thân, bạn bè… góp quần áo, giầy dép không dùng tới để chở vào trường.

“Gieo chữ” vùng xa, ngày 8/3 hay 20/11 của thầy cô giáo nơi đây đều giản đơn nhưng ấm áp. Cô Phương cho hay: Ngày lễ, các em học sinh hay đến nhà nội trú chơi với thầy cô. Thứ chúng mang theo tặng là những đóa hoa dại hay khúc mía, quả chuối… khiến giáo viên xúc động. “Nhận những món quà ấy mình càng yêu thêm nghề giáo, tạo động lực để mình tiếp tục gắn bó với mái trường”.

Cô Quản Thị Thanh Liễu – Hiệu trưởng cho biết: Hiện trường có 438 học sinh, trong đó chỉ có 1 em là dân tộc Kinh, còn lại đều là đồng bào dân tộc Mông. Trường có 10 phòng học trong đó có 2 phòng tạm làm bằng tôn, học sinh chỉ học một buổi. Từ khi thành lập trường (năm 2009) đến nay không được đầu tư, tu sửa do khu vực trường nằm trong diện tích quy hoạch hồ thủy lợi Krông Pắk Thượng, không được đầu tư thêm cơ sở vật chất nên việc dạy học gặp nhiều khó khăn. Dẫu vậy, các thầy cô giáo nơi xã vùng sâu heo hút này vẫn luôn tâm huyết với nghề và yêu thương học sinh .

MỚI - NÓNG