Người đam mê những con số

Anh Trần Ngọc Nam, giảng viên khoa Toán - Cơ - Tin học trường Đại học KHTN (ĐHQG Hà Nội) là nhà khoa học trẻ tiêu biểu. Anh là đại biểu Đại hội Hội LHTNVN lần thứ 5.

Thật sự yêu thích môn Toán từ những năm học trung học cơ sở, Trần Ngọc Nam đã rời mái ấm gia đình ở Đắk Lắk để một mình khăn gói ra Hà Nội đeo đuổi nỗi đam mê "những con số".

Đỗ thủ khoa trong kỳ thi tuyển vào khối phổ thông chuyên toán Đại học Tổng hợp Hà Nội cũ, Nam được nhập học tại trường. Gạt đi nỗi nhớ nhà, nhớ cha mẹ, những nhọc nhằn, thiếu thốn của cuộc sống xa gia đình, Nam dành toàn tâm cho việc học tập.

Không hiểu sao những con số khô khan, vô tri không mấy hấp dẫn lại có sức "mê hoặc" Nam đến kỳ lạ. Nam quên ăn, quên ngủ để đọc sách, nghiền ngẫm, tìm hiểu những vấn đề mới mẻ mà mình chưa được biết. Vượt lên trên nỗi nhớ gia đình, bao khó khăn của cuộc sống tự lập, Nam dồn hết thời gian vào học môn Toán.

Năm học lớp 11 là một kỷ niệm buồn, Nam không được có mặt trong đội tuyển thi toán quốc tế. Sau thất bại ấy, Nam vùi mình vào học để vượt lên. Những nỗ lực vượt bậc ấy đã không uổng, năm lớp 12, Nam đạt giải nhất kỳ thi Toán toàn quốc và đạt Huy chương bạc (38/42 điểm) tại kỳ thi Toán quốc tế lần 35 tổ chức tại Hồng Kông năm 1994.

Nhờ thành tích xuất sắc trong học tập, Nam được đặc cách chuyển thẳng vào Đại học Khoa học tự nhiên Hà Nội, Khoa Toán - Cơ - Tin học.

Những năm tháng trên giảng đường đại học, Nam đề ra mục tiêu phải viết được công trình nghiên cứu Toán học khi là sinh viên. Mấy năm trời dồn sức cho mục tiêu ấy, năm thứ 3 đại học (1998), Nam đã có công trình nghiên cứu chứng minh tính phân tích được của đại số Dickson xem như môđun trên đại số Steenrod.

Đây là một giả thuyết khó của GS.TSKH Nguyễn Hữu Việt Hưng (Trường Đại học Khoa học Tự nhiên Hà Nội), được đưa ra từ năm 1995 và công bố năm 1997 trên một tờ báo Toán có uy tín của Mỹ.

Giả thuyết được đưa ra đồng thời bởi F. Peterson (Viện công nghệ Massachusetts của Mỹ) và có liên quan đến các công trình của J.Lannes (Trường Bách khoa Paris), S. Zarati (Đại học Tunis-Tunis)... Trước Nam, chỉ có một số trường hợp riêng của giả thuyết được giải quyết bởi GS. Hưng, Peterson và R. Wood ( Đại học Manchester của Anh).

Công trình của Nam được trao giải nhất cuộc thi sinh viên nghiên cứu khoa học do Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức vào tháng 9/1999 và được công bố bằng tiếng Anh trong một bài báo viết chung với GS Hưng in năm 2001 trên tờ Transactions of the American Mathematical Society.

Nam tâm sự: Thành công này đã giúp tôi vững tâm vào con đường mình đã chọn. Cũng trong những năm này, Nam đã liên tiếp dành được những thành tích xuất sắc: Giải nhất môn giải tích kỳ thi Olympic sinh viên do Hội Toán học Hà Nội tổ chức; giải đặc biệt môn Đại số nhờ lời giải độc đáo tại kỳ thi Olympic sinh viên do Hội Toán học Hà Nội tổ chức; giải nhất công trình nghiên cứu khoa học sinh viên do Bộ Giáo dục và đào tạo tổ chức.

Tốt nghiệp cử nhân ngành Toán học loại giỏi và được chuyển thẳng lên cao học, 2 năm 2000 - 2001, Nam học cao học về Toán tại Đại học Paris 13; năm 2002 - 2004 là nghiên cứu sinh tiến sỹ về Toán, Đại học Paris 13. Dự kiến trong năm nay, Nam sẽ bảo vệ luận án tiến sỹ.

Hiện Nam đang là giảng viên của Khoa Toán - Cơ - Tin học, Trường Đại học Khoa học tự nhiên thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội. Thành công nối tiếp những thành công, đó là kết quả tất yếu cho sự nỗ lực phấn đấu không mệt mỏi của chàng trai mới 30 tuổi này. Nam còn rất nhiều dự định phải làm, vẫn nung nấu chinh phục những thử thách còn ở phía trước.

Là đại diện của giới trí thức trẻ tham gia Đại hội Hội liên hiệp thanh niên lần thứ V được tổ chức tại Hà Nội trong những ngày sắp tới, Trần Ngọc Nam rất tự hào. Mang tới Đại hội nguyện vọng của những trí thức trẻ, Nam mong giới trẻ luôn được quan tâm, tạo điều kiện trong nghiên cứu khoa học, đóng góp trí tuệ cho sự phát triển của đất nước.

Cùng chuyên mục

Xem thêm Giới trẻ

Cùng chủ đề

Mới - Nóng