Nữ Đại biểu Quốc hội 20 tuổi mới vào lớp 1

TP - Đôi bàn tay thô ráp với những ngón chai sần còn nhiều ngượng nghịu trên bàn phím đang xử lý văn bản. Hình ảnh ấy là của Vương Thị Thảo - người phụ nữ dân tộc Cờ Lao.

Vương Thị Thảo
Vương Thị Thảo hiện là Phó Chủ tịch HĐND xã Túng Sán, huyện Hoàng Su Phì, tỉnh Hà Giang. Tôi gặp lần đầu tiên khi cô là nữ đại biểu Quốc hội khóa XI. Câu chuyện dài cảm động về cuộc đời cô khiến tôi không thể không trở lại Hà Giang để tìm hiểu thêm về người phụ nữ đặc biệt này.

Chiều phố núi mùa này lạnh ngăn ngắt, sương mù bủa vây từng mái nhà đã kịp một màu bàng bạc khói. Thiếu tiếng động cơ ồn ĩ như dưới xuôi, vắng lặng bao trùm tưởng chừng nghe rõ tiếng rủ rỉ của đôi trai gái đã lướt qua mà thanh âm còn vương vất.

Tiếng mõ trâu như xa như gần đập vào vách núi vẳng lại, chơi vơi… Đi mãi rồi tôi cũng tìm được Thảo, sau bờ rào cô đang hì hụi nhào đất để đắp lại mấy chỗ trình tường bị bong tróc, chuẩn bị cho mùa đông sương giá sắp về.

Đôi bàn tay vàng những đất khi nãy chỉ kịp lau qua quýt rồi Thảo dẫn tôi vào nhà. Trên chiếc giường được ghép từ những tấm gỗ thô, ba đứa nhỏ gác nhau ngủ ngon lành (hai đứa lớn là con riêng của chồng thứ hai, đứa nhỏ là con chung của hai người).

Trời nhá nhem khiến căn nhà vách đất ẩm thấp và tối hơn bình thường. Chiếc đèn quả nhót cố khêu lên hết cỡ cũng chỉ leo lét sáng. Thảo mời tôi thứ nước đo đỏ được nấu từ rễ một loại cây rừng, cô bảo uống tốt cho sức khỏe và ngủ ngon. Tôi chiêu một ngụm, thấy có vị ngọt nhờ nhợ. Gặp lần này, thấy Thảo gầy và sạm hơn trước.

Nhớ lại thời thơ ấu với nhiều cực khổ, nhọc nhằn của mình cô không khỏi bồi hồi, xót xa. Cô sinh ra và lớn lên trong một gia đình nghèo khó, đông con ở Túng Sán - xã xa xôi, hẻo lánh nhất huyện Hoàng Su Phì. Trên đỉnh núi đá chỉ có giá lạnh đến tím tái người.

Vài manh áo cộc vá víu không đủ che kín cơ thể, không đủ giữ ấm cho những thân hình gầy guộc và nhếch nhác của mấy chị em Thảo. Mỗi khi Tết đến chỉ ước ao, chỉ thèm có được tấm áo mới mà bố mẹ cũng không thể mua nổi.

Nhà đông con, đứa bé mặc lại đồ của đứa lớn, mà cứ qua mỗi lượt luân chuyển tận dụng ấy, những mảnh vá lại nhiều hơn, những đường sờn rách dài thêm. Thế mà họ vẫn lớn lên, vẫn trưởng thành. Sự khắc nghiệt của tự nhiên cũng không thể quật ngã họ.

Thảo tâm sự: Hồi còn nhỏ cô thường xuyên bị đói. Cái đói đến run người là nỗi ám ảnh đeo bám suốt thời thơ ấu của chị em Thảo. Nhiều bữa lên nương từ sáng sớm chỉ được ăn mấy miếng sắn cho cả buổi làm, trên đường phải hái ăn những quả đùm đũm mọc dại cho đỡ đói lòng. Mà nương có khi cách nhà cả quả núi, đi bộ đến nơi mặt trời cũng đã vênh vếch đỉnh đầu.

Mặc dù hoàn cảnh gia đình khó khăn như vậy cũng không cản được những bước nhảy chân sáo lên nương, không ngăn được tiếng hát cất lên réo rắt với điệu kèn Pí Lè giữa núi rừng lạnh vắng. Và rồi, những nhịp chân ấy cũng phải thuận theo ý bố mẹ bước về nhà chồng khi cô mới 16 tuổi.

Nhưng Thảo đi là để bớt gánh nặng cho gia đình và như cô nói: “Để lấy con trâu tốt về cho anh chị cày ruộng”. Thảo đã gạt nước mắt để bằng lòng đổi thân mình vì sự túng bấn của cả nhà. Thế là cô đi làm dâu nhà… hàng xóm. Cuộc “đánh đổi” này bố mẹ cô vừa bớt đi miệng ăn vừa có trâu buộc trong chuồng. Còn cô, lại tiếp tục chuỗi ngày lên nương, vào rừng bên nhà chồng.

Ngày ấy, chồng Thảo (người chồng đầu tiên) là… cậu bé 12 tuổi  chưa hiểu biết gì, chỉ ham rong chơi. Suốt 6 năm trời, hàng ngày cô hết mướt mát việc đồng áng lại cắm cúi chạy về lo việc nhà.

Quay cuồng và mệt mỏi như vậy song mỗi dịp được xuống huyện, qua trung tâm giáo dục thường xuyên thấy chúng bạn ríu rít với cái chữ là mỗi lần Thảo chạnh lòng và thèm thuồng được đi học, được thoát khỏi cuộc sống như hiện tại.

Cũng bởi một lý do “tế nhị” khác khiến cô muốn rời bỏ cuộc sống với nhà chồng khi đó, anh chồng đã dính nghiện ngập lại thường xuyên hạch sách, đánh đập cô. Chính vì thế nỗi thèm khát ấy cứ càng ngày càng thôi thúc và cô ngày càng quyết tâm để thỏa nguyện.

Tuy nhiên, bằng cách nào cho nhà chồng chấp nhận để cô đi học đây, khi họ cưới cô về chỉ với mục đích có thêm người làm (!) Không đầu hàng số phận, Thảo đã phải kiên gan “đấu tranh” với chồng và gia đình chồng nhiều tháng ròng mới được xuống huyện học.

Trả lại trâu cho nhà chồng để thanh thản ra đi

Dẫu khó khăn vẫn luôn lạc quan

"Thảo là người rất tốt bụng, hay giúp đỡ mọi người và luôn hết mình vì công việc. Tôi quý Thảo vì cô ấy thật thà, thẳng thắn và đặc biệt luôn lạc quan trong cuộc sống.

Tôi nhớ nhất hình ảnh, cứ cuối kỳ họp QH mỗi đại biểu thường có rất nhiều sách và báo biếu, mọi người thì xem xong rồi bỏ lại riêng Thảo thường lấy phần của mình và xin thêm của người khác, gom tất cả lại thành vài thùng để mang về cho bà con dân bản mình đọc. Thảo luôn như thế, luôn sống vì người khác".

Chị Nguyễn Thị Kiều Nhung (Thư ký ĐBQH khóa XI tỉnh Hà Giang)

Buông những đường khâu cho chiếc áo của thằng cu lớn, Thảo khẽ vấn lại tóc, vỗ vỗ, ru hờ đứa con nhỏ chưa đầy tuổi vừa trở mình, trong thứ ánh sáng nhạt nhòa, tôi vẫn thấy rõ nét mặt cô giãn ra.

Bàn tay nhẹ nhàng luồn sau lưng áo xoa xuýt cho đứa nhỏ. Tôi biết, những tháng ngày đau buồn, khổ cực nhất của cô đã ở lại phía sau.

Nhớ lại cái niềm vui ngô nghê của những ngày đầu cắp sách đến trường huyện cách nhà gần 30km (thời điểm năm 1996) Thảo nói:

Thảo ở nội trú, lần đầu được ở với nhiều bạn nên rất vui, mọi người thường rủ nhau viết chữ và ôn bài. Thảo theo học hệ bổ túc văn hóa, cứ 2 năm lên 3 lớp, chỉ 8 năm là học hết THPT.

Được đi học, Thảo như cá về nước, chim về trời rất tích cực tham gia các hoạt động của đoàn thanh niên. Vốn là người có giọng hát hay lại năng nổ, phong trào nào của Hội phụ nữ xã cũng có mặt Thảo và sau cô làm cán bộ của Hội.

Hiện Thảo đang là sinh viên năm thứ 2 trường ĐH Văn hóa hệ tại chức (học ở TX Hà Giang). Chặng đường đến với cái chữ của Thảo - cô sơn nữ bé nhỏ ngày nào quả là một nỗ lực đáng khâm phục.

Ở trường, trong mắt bạn bè, thầy cô Thảo là người bạn, người học trò tốt bụng, gương mẫu, nhiệt tình với mọi người. Ai cũng quý mến Thảo bởi cô luôn sống lạc quan và luôn hy vọng vào một tương lai tốt đẹp phía trước.

Lục tìm từ cái rương gỗ cũ nhiều mối mọt, Thảo hớn hở mang chiếc hộp được bọc kín mấy lượt vải, lấy ra khoe tôi cái phù hiệu Đại biểu Quốc hội (ĐBQH). Kỷ vật đó nhắc nhớ đến thời điểm được ví như bước ngoặt lớn trong đời người phụ nữ ấy. 

Năm 2001, sau cả quá trình hoạt động tích cực, miệt mài các hoạt động xã hội, cô trúng cử ĐBQH khóa XI. Có công việc mới, Thảo đã phải chắt bóp, tùng tiệm chi tiêu được món tiền đủ để mua một con trâu (tương đương của hồi môn) trả lại cho nhà chồng.

Chính thời điểm đó Thảo quyết định ly dị người chồng vũ phu, nghiện ngập, cũng là để cô giải phóng mình khỏi cái nghèo, cái sự thất học, giải phóng đầu óc khỏi u mê, tăm tối.

Cuộc sống mới với công việc mới đã cuốn Thảo đi, đền trả xứng đáng cho những nỗ lực của người phụ nữ có tuổi thơ đói khát và lạnh giá. Dù không đem lại cuộc sống dư giả nhưng ít ra bước ngoặt này cũng giúp cô thỏa nguyện được tiếp tục mang cái chữ và hiểu biết về cho dân bản mình.

Ngắm nghía cái phù hiệu hồi lâu, Thảo lấy khăn lau qua lau lại và hồn nhiên giải thích: Làm thế này để nó luôn mới và sáng. Có phải ai cũng may mắn có phù hiệu ĐBQH thế này. Hỏi chồng Thảo đâu, cô nói: “Nó đang đi phụ hồ rồi, xa lắm, mấy hôm nữa mới về”. Đó là người chồng thứ hai của Thảo.

Năm 2004, Thảo được bầu làm Phó Chủ tịch HĐND xã Túng Sán. Số phận đưa đẩy để rồi cuối năm 2005 Thảo gặp anh Dương - dân tộc Tày, làm phụ hồ. Ngày đó, Thảo đã động lòng trắc ẩn trước hoàn cảnh của người đàn ông cũng từng một lần hạnh phúc dở dang như mình và thương xót hai đứa trẻ côi cút thiếu hơi ấm tình mẫu tử.

Thế là người phụ nữ chưa một lần tận hưởng niềm hạnh phúc làm mẹ ấy quyết định ôm chúng vào lòng, chăm sóc chúng bằng tất cả tình thương bản năng của người đàn bà làm mẹ. Họ lấy nhau và sống trong căn nhà nhỏ nghèo nàn dưới chân núi xã Túng Sán.

Chứng kiến Thảo lo lắng cho hai đứa trẻ từng li từng tí tôi càng hiểu và quý trọng hơn tấm lòng bao dung và như dân bản thường nói về cô: “Nó có cái bụng tốt đấy!”. Tuy nhiên, cuộc sống mới của Thảo vẫn còn nhiều khó khăn. Căn nhà tuềnh toàng, nhỏ thó náu mình dưới chân núi sao đủ ấm cho những đứa trẻ vào mùa đông sương muối rất độc xứ này.

Trời chợt đổ mưa, Thảo vội ào ra sân chỗ lồng gà con liếp chiếp lùa chúng vào chuồng. Quay vào, cô bảo: “Làm cán bộ xã thì lương không đủ cho bốn miệng ăn hàng ngày. Mỗi lần đi Hà Nội (kỳ họp ĐBQHpv), tiền mang về trang trải nợ nần cũng hết”. Tài sản lớn nhất của cả nhà là chiếc xe máy Trung Quốc Thảo phải ki cóp mãi mới sắm được cho chồng tranh thủ chạy xe ngoài thời gian đi phụ hồ.

Dạo trước khi có con (chung), Thảo còn theo chồng đi xúc cát, gánh đất thuê tất tả, nặng nhọc mà không ta thán nửa lời. Ai thuê gì cô làm nấy, cực mấy cũng chịu được.

Không ngừng học tập…

Lên Túng Sán lần này, Thảo khoe với tôi đã biết đánh máy vi tính rồi, dẫu chưa thành thạo lắm. Năm ngoái, Ủy ban xã có đầu tư mua một bộ máy vi tính mới, cứ khi nào công việc rảnh rỗi Thảo lại nhờ cô kế toán “gia sư” cho các thao tác sử dụng cơ bản và gõ văn bản để cập nhật thông tin.

Những ngón tay Thảo thường ngày quen với lao động nhọc nhằn nay ngồi trước bàn phím máy vi tính trông cứ quê kệch, ngượng ngập làm sao.

Thảo tần ngần một hồi rồi nói: Thảo muốn học thêm nhiều thứ của vi tính lắm mà trên này không có bán sách học, về xuôi, chị nhớ mua giúp Thảo với nhé.

Tôi chợt cay sống mũi, khi nơi đây, có những con người thế này, dù chật vật trong cuộc sống vẫn ham học hỏi trong khi mình chưa giúp được gì. 

Vừa đi làm, vừa đi học (ĐH VH hệ tại chức), vừa nuôi con nhỏ và vừa chu toàn cho cuộc sống gia đình, người phụ nữ bé nhỏ ấy lấy đâu ra sức lực để ôm đồm được tất cả những việc ấy?!

Cô tâm sự: “Thảo có nhiều dự định lắm. Nhưng để làm được việc thì phải học đã”. Và cô cũng có cái lý của riêng mình khi từ chối “cơ may” có thể một lần nữa giúp thay đổi đời.

Trong chuyến công tác và tiếp xúc cử tri của một vị nguyên là Ủy viên TW Đảng, TBT một tờ báo lớn đã chứng kiến cảnh lam lũ của nữ ĐBQH khóa XI này mà không khỏi xót xa. Ông đã có ý kiến và xin cho Thảo về Sở Điện lực Hà Giang nhưng cô thoái thác.

Bởi chính cô là người hiểu rõ tâm tư, nguyện vọng đồng bào mình, cô ở lại với mong muốn được xây dựng quê hương. Bà con xã Túng Sán mãi ghi nhớ hình ảnh Thảo đi bộ vượt rừng núi cả ngày trời để tiếp tế mì tôm cho những hộ đói nghèo xa xôi, hẻo lánh.

Vạt khói vắt ngang lên vùng trời đen thẳm. Bếp đã đỏ lửa. Căn nhà cũng ấm ấp hơn bởi tiếng nô của mấy đứa trẻ đã tỉnh giấc. Chúng nghển cổ, phưỡn mấy cái bụng tròn ủng lấp ló dưới cái áo cũn cỡn lên, giương cặp mắt tròn xoe nhìn người lạ.

Những sợi tóc loe xoe vàng rủ trước trán. Tôi chìa tay định bắt quen thì cả hai đứa lớn chạy tuột vào bếp giấu mặt sau lưng mẹ chúng. Đứa nhỏ mới chập chững biết đi đang ngồi chơi ở giường thấy vậy bật cười khanh khách.

Thảo đang nấu bữa tối muộn. Cô đãi khách với thực đơn giản dị của người vùng cao: đậu phụ trắng, canh cải, mèn mén và một đặc sản Hà Giang không thể thiếu trong mỗi bữa ăn là can rượu ngô lớn đang ngự ở chái nhà. Đôi bàn tay nấu ăn không bóng dầu mỡ, không ám mùi vị xào nấu, chỉ có mùi khói bếp ám vào. Ánh sáng hắt lên từ ngọn lửa soi rõ một gương mặt đang ửng hồng hạnh phúc.

Video đang được xem nhiều

Cùng chuyên mục

Xem thêm Giới trẻ

Cùng chủ đề

Mới - Nóng

Khám phá