45 năm 'Hà Nội - Điện Biên phủ trên không': Cuộc cân não chiến lược

TP - Cuộc hội thảo khoa học “Chiến thắng Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không - Bản lĩnh, trí tuệ và sức mạnh Việt Nam trên mặt trận đối không” do Bộ Tư lệnh Quân chủng Phòng không - Không quân vừa tổ chức đã đưa ra những đánh giá khoa học, cùng những góc nhìn đa chiều về sự kiện lịch sự này.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp thăm và động viên bộ đội PK-KQ trong chiến dịch 12 ngày đêm cuối tháng Chạp năm 1972. (ảnh tư liệu).
Đại tướng Võ Nguyên Giáp thăm và động viên bộ đội PK-KQ trong chiến dịch 12 ngày đêm cuối tháng Chạp năm 1972. (ảnh tư liệu).

Tầm nhìn chiến lược

Nhớ lại chiến thắng Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không, Thượng tướng Phan Văn Giang, Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam nhấn mạnh: Cách đây 45 năm, vào cuối tháng 12/1972, dưới sự lãnh đạo sáng suốt, tài tình của Đảng, quân và dân miền Bắc, mà Bộ đội Phòng không - Không quân (PK-KQ) là lực lượng nòng cốt đã đánh bại cuộc tập kích đường không chiến lược chủ yếu bằng máy bay B-52 của đế quốc Mỹ vào Hà Nội, Hải Phòng và một số địa phương miền Bắc, lập nên chiến công có một không hai trong lịch sử.

Theo Thượng tướng Phan Văn Giang, chiến thắng Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không do nhiều nguyên nhân, cả chủ quan và khách quan, cả trong nước và quốc tế; trong đó, tầm nhìn chiến lược của Đảng và Bác Hồ về chỉ đạo xây dựng lực lượng PK-KQ giữ vai trò
quyết định.

Trên cơ sở phân tích, đánh giá khách quan, khoa học bối cảnh quốc tế, trong nước, quy luật chiến tranh, tình hình chiến trường, nhất là về âm mưu, thủ đoạn của đế quốc Mỹ, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm có kết luận: “Ở Việt Nam, Mỹ nhất định thua. Nhưng nó chỉ chịu thua sau khi thua trên bầu trời Hà Nội”. Vì vậy, việc giành thắng lợi trên mặt trận đối không trước một đối tượng có trang bị, vũ khí, phương tiện đường không hiện đại như “Không lực Hoa Kỳ” được đặt ra từ sớm…

Đến giữa cuộc chống chiến tranh phá hoại miền Bắc lần thứ nhất, lực lượng phòng không đã phát triển thêm nhiều trung đoàn tên lửa, với trang bị, kỹ thuật ngày càng hiện đại. Đây là lực lượng tác chiến chủ lực của Quân chủng PK-KQ trên mặt trận đối không trong Chiến dịch Phòng không năm 1972. Cùng với đó, để không ngừng nâng cao trình độ, khả năng tác chiến của từng lực lượng, Đảng ta và Bác Hồ đã chủ trương chỉ đạo đưa một số đơn vị tên lửa, rađa, không quân và bộ phận kỹ thuật, cán bộ khoa học trực tiếp vào chiến trường để nghiên cứu đánh máy bay B-52 ngay từ khi chúng mới xuất hiện trên chiến trường miền Nam.

Với chủ trương này, lần đầu tiên bộ đội PK-KQ đã nghiên cứu, xây dựng được kế hoạch tác chiến để đối phó với máy bay B-52, với nhiều thủ đoạn “gây nhiễu”, tạo giả và tiến công mục tiêu mặt đất của máy bay B-52 để xác định cách đánh sáng tạo, hiệu quả. Đây là những tư liệu đầu tiên, “tuyệt mật” được bộ đội ta khám phá bằng thực tiễn chiến đấu tại chiến trường. Các tư liệu đó ngày càng được bổ sung và phân tích, đánh giá một cách khoa học từ thực tiễn thành công và chưa thành công trong các lần đụng đầu với máy bay B-52; trở thành tài liệu huấn luyện quan trọng cho bộ đội, làm cơ sở để các lực lượng hoàn thiện kế hoạch, phương án đối phó với cuộc tập kích đường không chiến lược của địch.

45 năm 'Hà Nội - Điện Biên phủ trên không': Cuộc cân não chiến lược - ảnh 1 Chỉ huy và kíp chiến đấu Tiểu đoàn 57 trao đổi kinh nghiệm bắn rơi chiếc B-52 sáng sớm 21/12/1972.  (ảnh tư liệu).

Cuộc đấu cân não

Theo Trung tướng, Anh hùng lực lượng vũ trang, phi công Nguyễn Đức Soát, nguyên Phó Tổng Tham mưu trưởng QĐND Việt Nam, đánh trả cuộc tập kích chiến lược bằng máy bay ném bom B-52 vào Hà Nội, Hải Phòng và một số mục tiêu trọng điểm khác trên miền Bắc thực sự là một cuộc đấu trí, đấu lực cân não không chỉ của lãnh đạo cấp chiến lược mà quan trọng hơn ở cấp chiến dịch và chiến thuật, nơi điều hành và thực thi nhiệm vụ đánh trả.

Mặc dù đã có kinh nghiệm trong chỉ huy đánh trả các đợt tập kích của không quân và hải quân Mỹ, song lần đầu tiên Quân chủng PK-KQ phải đánh trả một đợt tập kích chiến lược với quy mô chưa từng gặp. Mỹ đã huy động một lực lượng khổng lồ, gồm 193 máy bay ném bom chiến lược B-52 (chiếm gần 50% lực lượng không quân chiến lược), 48 máy bay F-111A, 999 máy bay chiến thuật các loại đánh phá ồ ạt và trực tiếp vào Hà Nội, Hải Phòng và một số mục tiêu trọng điểm khác. Mỹ đã sử dụng đồng bộ các trang bị tác chiến điện tử trên các máy bay gây nhiễu chuyên dụng như EB-66, EC-121 và trên các máy bay B-52 với cường độ cực lớn gây khó khăn cho hệ thống rađa cảnh giới, rađa dẫn đường của không quân và rađa điều khiển hỏa lực của tên lửa phòng không.

Trung tướng Nguyễn Đức Soát cho rằng, sai lầm của phía Mỹ là trước khi tiến hành chiến dịch này, họ đã đánh giá không đúng về khả năng của bộ đội tên lửa, khi cho rằng với hệ thống nhiễu dày đặc hoàn toàn có thể vô hiệu hóa được hệ thống tên lửa phòng không của Việt Nam. Lực lượng có thể uy hiếp trực tiếp máy bay chiến lược B-52 chỉ còn là các máy bay MiG. Vì vậy, các máy bay B-52 chỉ tấn công mục tiêu vào ban đêm và để loại trừ triệt để khả năng bị MiG tấn công cả
ban đêm.

Trước khi các máy bay ném bom chiến lược B-52 bay đến mục tiêu khoảng 2 giờ, vào khoảng 18 giờ 30 phút đến 19 giờ 30 phút đêm 18/12, toàn bộ các sân bay chủ yếu của không quân như Đa Phúc, Thọ Xuân, Kiến An, Kép, Yên Bái và cả sân bay Gia Lâm (sân bay chưa bao giờ không quân Mỹ đánh phá) đều bị các máy bay F-111A của không quân và A-6 của hải quân đánh phá ác liệt.

Nhằm khắc phục cường độ nhiễu rất đậm đối với các trận địa rađa dẫn đường quanh khu vực Hà Nội, bộ đội không quân đã triển khai các đài dẫn đường bổ trợ ở vòng ngoài như từ Cẩm Thủy (Thanh Hóa), Mộc Châu (Sơn La) nơi có cường độ nhiễu thấp hơn, tạo thuận lợi cho việc phát hiện mục tiêu và dẫn máy bay MiG-21 tiếp cận máy bay địch.

Mặt khác, để bảo đảm có thể xuất kích liên tục từ nhiều hướng, các sân bay Đa Phúc, Yên Bái được sửa chữa gấp. Mặc dù chỉ còn 500m đầu đường băng phía Tây sân bay Đa Phúc được sửa, không quân đã san gạt thêm 800m đường đất phía trước đường băng, dùng hệ thống đèn đêm dã chiến để các máy bay MiG-21 có thể cất cánh và hạ cánh. Các sân bay dã chiến và sân bay mới sửa xong cũng được sử dụng. Việc đưa MiG-21 cất cánh ban đêm từ sân bay Yên Bái (đêm 27/12/1972), sân bay dã chiến Cẩm Thủy (đêm 28/12/1972) và sử dụng các đài rađa dẫn đường bổ trợ từ vòng ngoài đã gây bất ngờ cho phía Mỹ và đạt hiệu quả chiến đấu tốt…

Việt Nam đã phóng bao nhiêu quả tên lửa?

Theo Thiếu tướng Lê Văn Ngọc, Phó Tham mưu trưởng Quân chủng PK-KQ, trong 12 ngày đêm, không quân Mỹ đã sử dụng máy bay ném bom chiến lược B-52 đánh phá Hà Nội, Hải Phòng với 795 lần xuất kích nhưng chỉ có 729 lần chiếc bay đến được mục tiêu. Các máy bay B-52 đã trút 15.287 tấn bom vào 34 mục tiêu, phá hủy hoặc gây hỏng nặng 1.600 cơ sở quân sự và công nghiệp. Cùng với các máy bay B-52, các máy bay chiến thuật của không quân và hải quân Mỹ đã xuất kích 1.041 lần chiếc ban ngày và 1.082 lần chiếc ban đêm (số liệu do phía Mỹ
cung cấp).

Trong 12 ngày đêm của chiến dịch, theo ước tính phía Mỹ có khoảng 884 đến 1.285 quả tên lửa SAM-2 đã được phía Bắc Việt Nam phóng lên, trong đó chỉ có 24 quả trúng mục tiêu (tỷ lệ bắn trúng là 2,7%). Phía Mỹ thừa nhận có 15 chiếc B-52 bị bắn hạ, 3 chiếc bị thương nặng, 6 chiếc bị thương nhẹ.

Mặc dù tỷ lệ máy bay B-52 rơi thấp hơn dự đoán của nhiều chuyên gia (1,89%), nhưng đây là tổn thất lớn của không quân Mỹ. Theo thống kê của một số tác giả Mỹ, trong 12 ngày đêm, chỉ có 27 lần chiếc MiG xuất kích đánh B-52, số liệu này gần trùng với số liệu của phía Việt Nam. Về cường độ, trong 12 ngày đêm, không quân và hải quân Mỹ hoạt động mỗi ngày và đêm trung bình 3 - 4 đợt, gồm 300 - 400 lần chiếc, cao nhất 465 lần chiếc. Riêng B-52 hoạt động trung bình 70 - 80 lần chiếc, ngày cao nhất 105 lần chiếc (đêm 26/12/1972).

Một trong những câu hỏi mà được nhiều chuyên gia và các nhà báo vẫn hay đặt ra là trong 12 ngày đêm của chiến dịch, phía Bắc Việt Nam đã phóng lên bao nhiêu quả tên lửa? Đã có nhiều con số được đưa ra, như người Mỹ nói có khoảng từ 800 - 1.000 quả, còn phía Việt Nam nói đã phóng 134 lần với 239 quả.

Chỉ trong 12 ngày đêm chiến đấu, với lực lượng PK-KQ làm nòng cốt, bộ đội tên lửa, bộ đội không quân là chủ lực, quân và dân ta đã bắn rơi 81 máy bay các loại; trong đó, có 34 máy bay chiến lược B-52 (chiếm hơn 17,6% trong số 193 máy bay chiến lược B-52 mà đế quốc Mỹ huy động vào cuộc tập kích). Riêng Quân chủng PK-KQ đã bắn rơi 53 chiếc, có 32 máy bay B-52, chiếm 94% tổng số máy bay B-52 bị bắn rơi của toàn chiến dịch. Chiến thắng mang tầm vóc chiến lược này đã buộc Mỹ phải ký Hiệp định Paris (27/1/1973) và chấm dứt xâm lược Việt Nam.

 

Bàn về sử dụng lực lượng không quân trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, trong tham luận gửi tới hội thảo, Trung tướng Phạm Phú Thái, nguyên Chánh Thanh tra Bộ Quốc phòng cho rằng, Bộ Quốc phòng, Bộ Tổng Tham mưu, Quân chủng PK-KQ sớm thống nhất việc phân chia, tổ chức đất nước thành 3 chiến trường (theo 3 vùng Bắc, Trung, Nam). Từ đó tổ chức quân đội, xây dựng hệ thống trang thiết bị chiến trường và thống nhất cả lực lượng tác chiến dưới sự chỉ huy chung của Bộ Tư lệnh chiến trường 1 (miền Bắc), 2 (miền Trung), 3 (miền Nam). Trong đó có các Bộ Tư lệnh của các lực lượng phòng không, không quân và các binh chủng…

 

       

Video đang được xem nhiều

Cùng chuyên mục

Xem thêm Người lính

Mới - Nóng

Khám phá