Quốc hội thảo luận về cổ phần hóa  doanh nghiệp Nhà nước:

Chống cổ phần hóa khép kín và thất thoát tài sản Nhà nước

TP - Con số hơn 3.000 doanh nghiệp Nhà nước (DNNN) được cổ phần hóa trong hơn chục năm qua chưa khiến các ĐBQH thỏa mãn bởi số vốn Nhà nước đã được cổ phần hóa chỉ mới chiếm 6%.

Đại biểu Võ Quốc Thắng (Long An) phát biểu tại hội trường
Hơn thế, tình trạng cổ phần hóa khép kín, việc thất thoát tài sản Nhà nước và số phận của người lao động sẽ ra sao sau cổ phần hóa là những câu hỏi nóng bỏng mà các vị ĐBQH đặt ra khi Chính phủ quyết tâm hoàn thành việc cổ phần hóa DNNN vào năm 2010.

Lo ngại thất thoát tài sản Nhà nước

Về việc số vốn Nhà nước được cổ phần hoá quá thấp, bà Trương Thị Mai, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa Giáo dục Thanh niên Thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội nhận định,  mục tiêu  tạo chuyển biến cơ bản, nâng cao hiệu quả cho DNNN sau cổ phần hóa là chưa đạt được.

Bên cạnh đó, bà Trương Thị Mai cho rằng, vấn đề  mà người dân quan tâm  trong việc cổ phần hóa là làm sao  vốn liếng Nhà nước không bị thất thoát. Thế nhưng, theo bà nhìn lại quá trình cổ phẩn hóa 15 năm qua không thể không lo ngại về khả năng thất thoát tài sản Nhà nước.

Ông Nguyễn Kim Khanh (ĐBQH Bình Phước) có cùng mạch tư duy này. Tuy trong báo cáo của Chính phủ trình Quốc hội khẳng định khi cổ phần hóa, giá trị vốn Nhà nước ở các DN được đánh giá tăng thêm 18,4% so với giá trị còn lại trên sổ sách.

Nhưng ông Khanh lại nhìn nhận: “Đó không phải là tăng thêm mà đó chính là tài sản Nhà nước đã được khấu hao không đúng thực tế và chắc chắn không chỉ dừng lại ở con số 18,4%”. 

Ông Nguyễn Kim  Khanh dẫn chứng : “Giá cổ phiếu khi bán đấu giá trên thị trường thường cao hơn mệnh giá 30-200%, cá biệt có nơi đến 4-5 lần. Ví dụ Cty Xây dựng số 1 Hà Nội, giá một cổ phần là 13.000 đồng đến lúc đấu giá thành 39.000 đồng”.

Không chỉ vậy,  trong báo cáo thẩm tra, Ủy ban Kinh tế - Ngân sách của Quốc hội trước đó cũng đã đề cập vấn đề này. Ông Nguyễn Đức Kiên, Chủ nhiệm Ủy ban  này nói  rằng, việc tính giá trị tiềm năng của DN như thương hiệu, danh tiếng, lợi thế kinh doanh...chỉ được tính áng chừng, không có cơ sở và cách tính toán phù hợp mà thực tế cũng rất ít DN áp dụng.

Nguyên nhân, theo ông Kiên là do công tác giám sát, kiểm tra đôn đốc thực hiện các đề án cổ phần hóa của các cấp có thẩm quyền chưa thường xuyên, thiếu kiên quyết. Tình trạng này cũng khiến tài sản của Nhà nước bị thất thoát ít nhiều trong quá trình cổ phần hóa.

Thế nhưng sự gia tăng cổ phiếu của các DN cổ phần lại thường không rơi vào tay người lao động khiến cho nhiều vị ĐBQH cho rằng mục tiêu cổ phần hóa nhưng không tư nhân hóa đã không đạt được trong thực tế.

“Công nhân của những đơn vị này dù được mua cổ phần với giá ưu đãi giảm 40%, nhưng họ không có tiền để mua và phải bán non cho các nhà đầu tư lớn mà trong đó không ít chính là lãnh đạo của DN, thậm chí họ bán lại cho lãnh đạo DN với giá khá thấp”- Ông Đặng Ngọc Tùng, Phó Chủ tịch Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam lên tiếng.

Và hệ quả của nó, theo ông Tùng, khi đưa cổ phần lên sàn giao dịch thì một số ít người trở thành tỷ phú mới, còn đại đa số công nhân nghèo vẫn hoàn nghèo, trở thành người làm thuê cho các ông chủ mới.

Quyền sử dụng đất: Tính hay không?

Vấn đề gây tranh cãi khá nhiều là ứng xử thế nào với giá trị quyền sử dụng đất trong quá trình cổ phần hóa. “Mở hàng” về vấn đề này ông Đặng Ngọc Tùng ủng hộ việc đưa giá trị quyền sử dụng đất vào giá trị tài sản DN khi cổ phần hoá, coi đó như một phần vốn Nhà nước góp vào công ty cổ phần.

“Khi đưa giá trị quyền sử dụng đất vào giá trị của DN cổ phần hóa thì có tác dụng buộc DN phải cân nhắc và sử dụng đất hợp lý. Nếu chiếm quá nhiều đất so với nhu cầu sử dụng sẽ dẫn đến giá trị của DN tăng lên quá mức và Nhà nước cần phải thu hồi diện tích đất dư thừa so với nhu cầu sản xuất kinh doanh của DN.

Như vậy việc đưa giá trị đất vào giá trị DN cổ phần là phù hợp, tạo lập sự bình đẳng giữa các thành phần kinh tế”- Ông Tùng nói. Thế nhưng, có không ít ý kiến không tán thành cách đặt vấn đề này.

Ông Trương Văn Hiền (ĐBQH Nghệ An) cho rằng: “Nếu đưa giá trị quyền sử dụng đất vào sẽ làm chậm tiến độ cổ phần hóa. Mặt khác, cổ tức sẽ không có do phải tính trên giá trị đất”.

Theo ông Hiền, phương án giải quyết  hợp lý cho vấn đề này  là cho phép các Cty sau cổ phần hoá cũng được thuê đất giống như các DNNN trước đây.

Có quá ít nhà đầu tư nước ngoài được mua cổ phần

Đối tượng mua cổ phần hạn hẹp khiến đa phần các DN sau cổ phần hoá không có sự thay đổi đáng kể trong phương thức quản lý, quản trị DN cũng đã được Ủy ban Kinh tế- Ngân sách chỉ ra khi giám sát việc cổ phần hóa DNNN. 

Ông Nguyễn Đức Kiên khẳng định: “Trong thời gian dài, cổ phần lần đầu chủ yếu do Nhà nước nắm giữ phần chi phối, tiếp đến là bán cho người lao động, nhà đầu tư, cá nhân có quan hệ với DN...

Quyền mua cổ phần của người quản lý trong DN rất hạn chế. Nhà đầu tư có tiềm năng vốn, công nghệ, năng lực quản lý (cả nhà đầu tư trong và ngoài nước ) chỉ được mua số lượng cổ phần hạn chế”.

Cũng theo báo cáo giám sát, có đơn vị xác định nhà đầu tư chiến lược là DN thành viên trong nội bộ Tổng Cty. Cụ thể trong 2.935 DN cổ phần chỉ có 20 Cty có cổ  đông là nhà đầu tư nước ngoài, chiếm chưa đến 1%. Còn  ở TP HCM, 17 Cty cổ phần có cổ đông là nhà đầu tư nước ngoài, chỉ nắm giữ 2% vốn điều lệ.

Thứ trưởng Bộ Thủy sản, bà Nguyễn Thị Hồng Minh nói rằng chính vì xu hướng khép kín trong cổ phần hóa với quá nhiều những quy định, ràng buộc khiến cho các nhà đầu tư lớn, đặc biệt là nhà đầu tư nước ngoài không thể đem năng lực quản lý, thiết bị công nghệ để thay đổi bộ mặt DNNN.

Còn ông Võ Quốc Thắng, Tổng Giám đốc Cty Gạch men Đồng Tâm nói rằng sự minh bạch trong cổ phần hóa có vai trò cực kỳ quan trọng. “Làm gì thì làm nhưng đừng phân biệt DN tư nhân hay nhà nước, trong nước hay nước ngoài mà nên quan tâm đến mục tiêu DN nộp ngân sách bao nhiêu, giải quyết việc làm thế nào, góp phần vào sự phát triển ra sao”.

Hôm nay (7/11), Quốc hội thảo luận về báo cáo giám sát chất lượng đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý trong lĩnh vực GD-ĐT và dạy nghề.

Từ nay đến hết năm 2010 sẽ cổ phần hóa khoảng 1.500 doanh nghiệp và đến cuối năm 2010 cả nước chỉ còn 554 doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước, trong đó có 26 tập đoàn, Tổng Cty lớn.

Hoàn thành cổ phần hóa trong năm 2007 đối với Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam, Ngân hàng Phát triển nhà đồng bằng sông Cửu Long. Đối với 3 ngân hàng thương mại Nhà nước còn lại là Ngân hàng Đầu tư và Phát triển, Ngân hàng Công thương Việt Nam, Ngân hàng NN&PTNN sẽ tiến hành cổ phần hóa xong trong năm 2008.

Video đang được xem nhiều

Cùng chuyên mục

Xem thêm Kinh tế

Mới - Nóng

Khám phá