Đế quốc Pháp – Từ lãnh thổ liên minh đến Đế quốc cường thịnh – Kỳ I

Từ thế kỷ XVIII, nền văn minh Pháp và tiếng Pháp phát triển rực rỡ ở châu Âu với kỷ nguyên ánh sáng và các nhà triết học, khoa học nổi tiếng để lại những thành tựu mà thế giới đang kế thừa và phát triển.

Đế quốc Pháp – Từ lãnh thổ liên minh đến Đế quốc cường thịnh – Kỳ I - ảnh 1  
Đế quốc Pháp – Từ lãnh thổ liên minh đến Đế quốc cường thịnh – Kỳ I - ảnh 2  
Đế quốc Pháp – Từ lãnh thổ liên minh đến Đế quốc cường thịnh – Kỳ I - ảnh 3  

Nước Pháp hình thành vào cuối thế kỷ IX và đến cuối thế kỷ XIV trở thành một quốc gia thống nhất. Pháp dần trở thành cường quốc hàng đầu châu Âu, có ảnh hưởng to lớn đến chính trị, kinh tế, quân sự và văn hoá của châu lục này. Với chủ trương bành trướng mở rộng lãnh thổ, từ thế kỷ XVII đến năm 1960, Pháp là quốc gia sở hữu nhiều nước thuộc địa. Trong thế kỷ XIX và XX, đế chế thuộc địa toàn cầu của họ lớn thứ hai thế giới, chỉ sau đế quốc Anh. Vào thời điểm cực thịnh (1919 – 1939), đế quốc thuộc địa Pháp chiếm 8,6% diện tích đất liền thế giới. 

Đế quốc Pháp – Từ lãnh thổ liên minh đến Đế quốc cường thịnh – Kỳ I - ảnh 4  

Với tinh thần học hỏi, khám phá và không ngừng sáng tạo, Pháp từ lâu đã có vị thế là một trung tâm của thế giới về nghệ thuật, khoa học và triết học. Văn hóa Pháp đã tồn tại song song với các thời kì phát triển rực rỡ nhất, mang tính "cột mốc" của nền văn hóa nhân loại: thời kì La Mã cổ đại, thời kì phong kiến trung đại và thời kì Phục Hưng, cho đến cuộc cách mạng tư sản vào thời kì hiện đại.

Từ thời Trung Cổ, Pháp đã là một nước có đóng góp lớn cho thành tựu khoa học và kỹ thuật. Đại học Paris được thành lập vào giữa thế kỷ XII và hiện vẫn là một trong các đại học quan trọng nhất của thế giới phương Tây. Trong thế kỷ XVII, nhà toán học René Descartes xác định một phương thức tiếp thu kiến thức khoa học, trong khi Blaise Pascal nổi tiếng với công trình về xác suất và cơ học chất lưu. Họ đều là các nhân vật chủ chốt trong cách mạng khoa học nở rộ tại châu Âu vào giai đoạn này. Vua Louis XIV cho thành lập Viện Hàn lâm Khoa học Pháp nhằm khuyến khích và bảo hộ tinh thần nghiên cứu khoa học Pháp, đây là một trong các viện hàn lâm khoa học sớm nhất và đi đầu trong phát triển khoa học tại châu Âu trong thế kỷ XVII và XVIII.

Đế quốc Pháp – Từ lãnh thổ liên minh đến Đế quốc cường thịnh – Kỳ I - ảnh 5 Tòa nhà Institut de France nơi đặt trụ sở của Viện hàn lâm Pháp

Thời kỳ Khai sáng có dấu ấn là công trình của nhà sinh vật học Buffon và nhà hoá học Lavoisier, là người phát hiện vai trò của oxy trong sự cháy, còn Diderot và D'Alembert xuất bản Encyclopédie nhằm mục tiêu cung cấp cho nhân dân lối tiếp cận "kiến thức hữu dụng", kiến thức mà họ có thể áp dụng trong sinh hoạt thường nhật của mình. Cùng với cách mạng công nghiệp, thế kỷ XIX chứng kiến bước phát triển khoa học ngoạn mục tại Pháp với các nhà khoa học như Augustin Fresnel sáng lập quang học hiện đại, Sadi Carnot đặt nền tảng cho nhiệt động lực học và Louis Pasteur là nhà tiên phong về vi sinh vật học.

Các nhà khoa học Pháp nổi tiếng trong thế kỷ XX gồm có nhà toán học và vật lý học Henri Poincaré, các nhà vật lý học Henri Becquerel, Pierre và Marie Curie, nổi tiếng nhờ công trình của họ về phóng xạ, nhà vật lý học Paul Langevin và nhà vi-rút học Luc Montagnier cùng khám phá HIV/AIDS.

Đế quốc Pháp – Từ lãnh thổ liên minh đến Đế quốc cường thịnh – Kỳ I - ảnh 6  

Văn học Pháp sơ khởi có niên đại từ thời Trung cổ, khi lãnh thổ Pháp hiện nay chưa có một ngôn ngữ thống nhất. Tồn tại một số ngôn ngữ và phương ngữ, và các nhà văn sử dụng chính tả và ngữ pháp của riêng họ. Đến thế kỷ XVI, một nhà văn quan trọng là François Rabelais, tiểu thuyết Gargantua và Pantagruel của ông vẫn nổi tiếng và được đánh giá cao cho đến nay. Michel de Montaigne là nhân vật lớn khác của văn học Pháp trong thế kỷ này, tác phẩm nổi tiếng nhất của ông là Essais, tạo ra thể loại văn học tiểu luận. Thơ Pháp trong thế kỷ XVI có đại biểu là Pierre de Ronsard và Joachim du Bellay, cả hai lập ra phong trào văn học La Pléiade. Sang thế kỷ XVII, Madame de La Fayette cho xuất bản La Princesse de Clèves ẩn danh, tiểu thuyết này được cho là một trong các tiểu thuyết tâm lý đầu tiên của mọi thời đại. Jean de La Fontaine là một trong các nhà văn ngụ ngôn nổi tiếng nhất trong thời kỳ này, ông viết hàng trăm truyện ngụ ngôn.

Jean Racine cùng với Pierre Corneille và Molière được cho là ba nhà soạn kịch vĩ đại của thời đại hoàng kim tại Pháp. Molière là một trong các bậc thầy vĩ đại nhất về hài kịch của văn học phương Tây, ông viết hàng chục vở kịch như Le Misanthrope, L'Avare, Le Malade imaginaire và Le Bourgeois Gentilhomme. Các vở kịch của ông nổi tiếng khắp thế giới đến mức tiếng Pháp đôi khi được gọi là "ngôn ngữ của Molière".

Văn học Pháp phát triển hưng thịnh  hơn  nữa trong thế kỷ XVIII và XIX. Cũng trong thế kỷ này, Charles Perrault có nhiều tác phẩm nổi tiếng thuộc thể loại truyện cổ tích cho thiếu nhi như Mèo đi hia, Cô bé Lọ Lem, Người đẹp ngủ trong rừng và Lão Râu Xanh. Vào lúc khởi đầu thế kỷ XIX, thơ tượng trưng là một phong trào quan trọng trong văn học Pháp, với các nhà thơ như Charles Baudelaire, Paul Verlaine và Stéphane Mallarmé.

Victor Hugo được nhìn nhận là "nhà văn Pháp vĩ đại nhất mọi thời đại" vì vượt trội trong toàn bộ các thể loại văn chương. Lời tựa của vở kịch Cromwell được cho là bản tuyên ngôn của phong trào lãng mạn. Les Contemplations và La Légende des siècles được cho là "kiệt tác thơ", thơ của Hugo được so sánh với thơ của Shakespeare, Dante và Homère. Tiểu thuyết "Những người khốn khổ" của ông được nhìn nhận rộng rãi là một trong các tiểu thuyết vĩ đại nhất mọi thời đại và "Nhà thờ Đức Bà Paris" vẫn còn rất được ưa thích. Các tác giả lớn khác trong thế kỷ XIX gồm có Alexandre Dumas (Ba chàng lính ngự lâm và Bá tước Monte Cristo), Jules Verne (Hai vạn dặm dưới đáy biển, Émile Zola (Les Rougon-Macquart), Honoré de Balzac (Tấn trò đời), Guy de Maupassant, Théophile Gautier và Stendhal (Đỏ và đen, Tu viện thành Parme), tác phẩm của họ thuộc vào hàng nổi tiếng nhất tại Pháp và thế giới.

Đế quốc Pháp – Từ lãnh thổ liên minh đến Đế quốc cường thịnh – Kỳ I - ảnh 7 Tác phẩm "Nhà Thờ Đức Bà Paris" - Victor Hugo

Triết học hiện đại bắt đầu tại Pháp trong thế kỷ XVII với các triết gia như René Descartes, Blaise Pascal và Nicolas Malebranche. Descartes hồi sinh triết học phương Tây vốn suy thoái sau thời Hy Lạp và La Mã. Suy ngẫm về Triết học Tiên khởi của ông thay đổi khách thể chính của tư tưởng triết học và nêu lên một số vấn đề căn bản nhất cho một số người nước ngoài.

Các triết gia Pháp sản sinh một số tác phẩm chính trị vào hàng quan trọng nhất trong Thời kỳ Khai sáng. Trong Tinh thần pháp luật, Montesquieu nêu lên lý thuyết về nguyên tắc phân chia quyền lực, là điều được thi hành trong toàn bộ các chế độ dân chủ tự do, sau khi được áp dụng lần đầu tại Hoa Kỳ. Trong Khế ước xã hội, Jean-Jacques Rousseau công khai chỉ trích các chế độ quân chủ thần quyền tại châu Âu và khẳng định mạnh mẽ nguyên tắc chủ quyền thuộc về nhân dân. Voltaire trở thành hiện thân của Thời kỳ Khai sáng với những biện hộ về tự do dân sự như quyền xét xử tự do và tự do tôn giáo.

Tư tưởng tại Pháp trong thế kỷ XIX đặt mục tiêu vào phản ứng trước náo động xã hội sau Cách mạng Pháp. Các triết gia duy lý như Victor Cousin và Auguste Comte, người kêu gọi một học thuyết xã hội mới, bị phản đối bởi các nhà tư tưởng phản động như Joseph de Maistre, Louis de Bonald và Félicité Robert de Lamennais, họ đổ lỗi cho những người duy lý bác bỏ trật tự truyền thống. De Maistre cùng với triết gia người Anh Edmund Burke được cho là những người sáng lập chủ nghĩa bảo thủ châu Âu, trong khi Comte được cho là người thành lập chủ nghĩa thực chứng, luận thuyết này được Émile Durkheim định nghĩa lại để làm cơ sở cho nghiên cứu xã hội.

Đế quốc Pháp – Từ lãnh thổ liên minh đến Đế quốc cường thịnh – Kỳ I - ảnh 8 René Descartes là triết gia, nhà khoa học, nhà toán học người Pháp, được xem là cha đẻ của triết học hiện đại.

Về kiến trúc, đã từ lâu những kiểu kiến trúc Gothic hay những kiến trúc sử dụng vật liệu kim loại đã phổ biến tại đất nước này và hầu như nó đã tạo thành xu hướng trên thế giới trong rất nhiều thập kỷ. Khải Hoàn Môn nằm ngay giữa Place Charles de Gaulle, được xây để chào mừng chiến thắng Austerlitz (1806) với chiều rộng 45 mét, cao 50 mét, nằm trên quảng trường có đường kính 240 mét. Công trình là tổng thể điêu khắc lớn nhất của Pháp trong thế kỷ 19. Các mặt của công trình được trang trí nhiều bức phù điêu, tượng đài và khắc tên các nhân vật nổi tiếng trong giai đoạn Cách mạng và Đế chế.

Lâu đài Versailles là công trình ghi dấu những tinh hoa của nghệ thuật Pháp thế kỷ XVII, kiến trúc tuân theo những quy tắc chuẩn mực của chủ nghĩa cổ điển như tính đối xứng của công trình, các hành lang nhiều cột. Xen vào sự chính xác này là một số nét nghệ thuật Baroque. Cung điện Versailles hiện bao gồm các điện Versailles với 700 phòng, 2,513 cửa sổ, 352 ống khói, 67 cầu thang, 483 gương và 13 héc ta mái ngói.

Pháp có lịch sử âm nhạc lâu dài và đa dạng, trải qua một giai đoạn hoàng kim trong thế kỷ XVII nhờ bảo trợ của Louis XIV, vị quốc vương này đưa một số nhạc sĩ và nhà soạn nhạc tài năng vào làm việc trong triều đình. Các nhà soạn nhạc nổi danh nhất trong giai đoạn này gồm có Marc Antoine Charpentier, François Couperin, Michel-Richard Delalande, Jean-Baptiste Lully và Marin Marais, họ đều là người của triều đình. Sau khi Louis XIV mất, sáng tạo âm nhạc của Pháp mất đi động lực, song đến thế kỷ sau đó âm nhạc của Jean-Philippe Rameau đạt được thanh thế đáng kể, và ngày nay ông vẫn là một trong các nhà soạn nhạc Pháp nổi tiếng nhất. Rameau trở thành nhà soạn nhạc chiếm ưu thế của opera Pháp và là nhà soạn nhạc Pháp hàng đầu về đàn clavecin.

(Đón đọc nội dung tiếp theo: Đế quốc Pháp – Từ lãnh thổ liên minh đến Đế quốc cường thịnh – Kỳ II)

Cùng chuyên mục

Xem thêm Kinh tế

Cùng chủ đề

Mới - Nóng