Điều chỉnh lại cơ cấu nợ quốc gia?

TP - Bàn về dự án đầu tư đường sắt cao tốc (và có thể cả các dự án khác) một số đại biểu quốc hội và nhiều người lo ngại về nợ công của Việt Nam. Liệu cách đầu tư không hiệu quả có dẫn Việt Nam lâm cảnh nợ nần khi nhiều người nhắc đến tấm gương vỡ nợ của Hy Lạp?

Điều chỉnh lại cơ cấu nợ quốc gia?

Với loại tàu đạt tốc độ 300 km/h này, tổng đầu tư tuyến đường
            sắt cao tốc Bắc - Nam được cho là sẽ lên đến cả trăm tỷ USD . Ảnh: H.H
Với loại tàu đạt tốc độ 300 km/h này, tổng đầu tư tuyến đường sắt cao tốc Bắc - Nam được cho là sẽ lên đến cả trăm tỷ USD . Ảnh: H.H.

Ngày 27-5, bên lề cuộc họp của Quốc hội, Phó Thủ tướng Thường trực đặt vấn đề điều chỉnh lại cơ cấu nợ quốc gia.

Nợ công đến cuối năm 2009 của Việt Nam khoảng 44,7% GDP, trong đó nợ do Chính phủ vay là 35,4% GDP, nợ được Chính phủ bảo lãnh là 7,9% GDP và nợ của chính quyền địa phương là 1,4% GDP.

Nếu hiểu cơ cấu là tỷ lệ của ba thành tố kể trên của nợ công (chính phủ trực tiếp vay, bảo lãnh, địa phương vay và bảo lãnh), việc điều chỉnh cơ cấu có thể hiểu là sự thay đổi các tỷ lệ đó. Sự thay đổi đó có thể có ý nghĩa do cách dùng các khoản vay, cách quản lý các khoản vay có thể khác đi và làm cho việc sử dụng tiền vay có thể có hiệu quả khác đi (có thể tốt lên hay tồi đi tùy trường hợp).

Rủi ro đạo đức

Việc điều chỉnh cơ cấu như vậy có thể là việc đáng làm. Tuy nhiên, xét về nghĩa vụ trả nợ, tái điều chỉnh cơ cấu nợ quốc gia không hề làm giảm (hay tăng) tổng số nợ hay nghĩa vụ trả nợ.

Nếu tăng tỷ lệ bảo lãnh cho các bên thứ ba, chủ yếu là các doanh nghiệp (nhà nước, thậm chí tư nhân), và các doanh nghiệp này làm ăn hiệu quả thì khả năng chúng trả được nợ có thể cao và như thế khả năng vỡ nợ quốc gia sẽ giảm.

Điều này chỉ có thể xảy ra khi doanh nghiệp đem tài sản lớn hơn khoản nợ được bảo lãnh ra thế chấp cho Chính phủ (tức là nếu không trả được nợ các ông chủ là người mất đầu tiên và mất rất nhiều, có thể mất sạch cơ nghiệp).

Không có điều kiện đó (ràng buộc ngân sách cứng) thì cái gọi là rủi ro đạo đức sẽ xuất hiện và vì đã có người trả nợ thay, nên người vay có thể rất mạo hiểm (thắng ta hưởng, thua Chính phủ trả) và việc sử dụng vốn vay chưa chắc đã hiệu quả.

Khoản vay hộ hay bảo lãnh của Chính phủ cho vài tập đoàn vừa qua có lẽ chưa thật hiệu quả và nên khảo sát, nghiên cứu để rút kinh nghiệm. Việc Chính phủ dự kiến bảo lãnh cho Tổng Cty Đường sắt làm đường sắt cao tốc cũng vậy. Chính phủ vẫn có nghĩa vụ trả nợ cho các khoản bảo lãnh đó.

Nếu tăng tỷ lệ nợ của các địa phương cũng có thể dẫn đến kết quả tốt hơn hay tồi hơn.

Như thế điều chỉnh lại cơ cấu có thể là việc nên làm song phải tính toán, thử nghiệm một cách thận trọng.

Hai vấn đề hoàn toàn khác nhau

Cơ cấu nợ quốc gia hay nợ công không liên quan gì đến giới hạn an toàn của nợ quốc gia. Đó là hai vấn đề hoàn toàn khác nhau.

Thế nhưng hình như các báo lại trình bày ý của Phó Thủ tướng theo cách để bạn đọc hiểu rằng điều chỉnh lại cơ cấu nợ quốc gia ngoài ý nghĩa như trên cũng còn có nghĩa có thể tăng giới hạn an toàn.

“Chủ trương của ta là đưa ra một hệ số an toàn cho nền tài chính đất nước. Mức này tùy điều kiện từng nước mà họ đưa ra những hệ số an toàn khác nhau. Có nước người ta nợ tới trên 100% GDP, có nước xấp xỉ 100% hoặc dưới 100%, còn nước ta khoảng 50% GDP”. “Có thể phải tính một tỉ lệ nợ cao hơn”.

Tôi không rõ báo chí có hiểu nhầm hay không, vì sự nới lỏng hệ số an toàn nợ công là rất nguy hiểm. Có rất nhiều số liệu thống kê và dữ liệu lịch sử và tất cả các lý thuyết về tài chính và quản trị rủi ro đều nói rằng vượt một hạn mức nhất định (thí dụ 40% GDP) thì nguy cơ lâm nợ nần sẽ rất cao. Và thời gian mà một số nước có mức nợ công gần hay vượt 100% GDP chỉ là những khoảng thời gian ngắn và đúng là những lúc họ bị vỡ nợ hay lâm vào khủng hoảng trầm trọng. Không thể noi gương xấu như vậy nếu muốn làm một đối tác tin cậy trong thế giới toàn cầu hóa.

Nợ công của Việt Nam vài chục năm trước đã ở mức 90% GDP và thực sự chúng ta không thể trả được nợ. Một số nước phải giúp chúng ta xử lý nợ quá hạn với Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), rồi qua câu lạc bộ Paris và các cuộc dàn xếp song phương để đưa nợ quốc gia xuống khoảng 30% GDP vào năm 2003.

Kinh nghiệm của chính chúng ta chưa phải quá xa, của Nga 1998, của Argentina năm 2001 và của Hy Lạp hiện nay phải là bài học cho tất cả chúng ta, nhất là những người có quyền quyết định.

Điều chỉnh lại cơ cấu nợ quốc gia hiểu theo nghĩa đầu có thể là việc nên làm nhưng cũng phải cẩn trọng, nếu hiểu theo cách thứ hai (mà tôi nghĩ là bị lầm) thì rất nguy hiểm.

Nợ quốc gia (national debt, cũng còn được là nợ công – public debt, hay nợ chính phủ – government debt) là nợ do chính phủ (trung ương và địa phương) vay và các khoản nợ của các bên thứ ba do chính phủ bảo lãnh.

Lưu ý rằng nợ tư nhân (thí dụ, nợ của một doanh nghiệp vay một doanh nghiệp khác [ở trong hay ngoài nước]) không thuộc nợ quốc gia, nếu khoản vay đó không được chính phủ bảo lãnh. Nợ tư là quan hệ giữa hai bên tư nhân với nhau và những vụ vỡ nợ nhỏ thường xảy và chủ nợ có thể thiệt hại mà không ảnh hưởng mấy đến toàn bộ nền kinh tế.

Video đang được xem nhiều

Cùng chuyên mục

Xem thêm Kinh tế

Mới - Nóng

Khám phá