Nhập khẩu lạm phát

Gần đây trên các diễn đàn hội thảo và trên một số phương tiện thông tin đại chúng xuất hiện một cụm từ mới là "nhập khẩu lạm phát". Vậy tại sao lại là "nhập khẩu lạm phát" và chống "lạm phát nhập khẩu" như thế nào?

Giá sắt thép tăng cao, trong đó có phôi thép, góp phần làm tăng kim ngạch nhập khẩu - Ảnh: Đ.N.T
Nhập khẩu lạm phát được hiểu theo hai nghĩa. Nghĩa thứ nhất là giá nhập khẩu đã tăng rất cao, làm tăng chi phí đầu vào của sản xuất, làm tăng giá hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu. Giá nhập khẩu đã tăng liên tục trong mấy năm nay.

Riêng hai tháng đầu năm nay, giá xăng dầu tăng 49,7%, đã làm tăng 541 triệu USD kim ngạch nhập khẩu; giá sắt thép tăng 21,4 (riêng phôi thép tăng 42,4%), đã làm tăng 259 triệu USD; giá phân bón tăng 71,3%, đã làm tăng 88 triệu USD; giá chất dẻo tăng 12,6%, đã làm tăng 54 triệu USD; giá sợi dệt tăng 14,2%, đã làm tăng 16 triệu USD; giá lúa mì tăng 55,5%, đã làm tăng 12 triệu USD; giá bông tăng 16,4%, đã làm tăng 10 triệu USD; giá giấy tăng 5,2%, đã làm tăng 6 triệu USD.

Chỉ với những mặt hàng trên, do giá tăng đã làm kim ngạch nhập khẩu tăng gần 1 tỉ USD trong 2 tháng, chiếm gần một phần tư tổng kim ngạch nhập khẩu của các mặt hàng này. Trong khi đó, nhiều mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam lại mang tính gia công rất cao, như dệt may, giày dép... có đến 80% nguyên liệu phải nhập khẩu.

Nghĩa thứ hai là tỷ giá. Đồng Việt Nam đã nhiều năm nay được "neo giá" vào đồng USD, mặc dù đồng USD đã giảm giá mạnh so với các đồng tiền trên thế giới.

Tính từ năm 2000 đến nay, về danh nghĩa đồng Việt Nam đã bị mất giá tới 20% so với USD; nếu so với "rổ tiền tệ" của 19 đồng tiền khác (bao gồm cả USD) trong kim ngạch xuất khẩu lớn của Việt Nam, thì đồng Việt Nam đã giảm giá về danh nghĩa tới 22% và giảm khoảng 12% về tỷ giá thực.

Như vậy, nhập khẩu của Việt Nam bị "đắt kép": vừa đắt do bản thân hàng hóa nhập khẩu tính bằng USD, vừa đắt do đồng tiền Việt Nam bị giảm giá so với USD và giảm giá mạnh hơn so với các đồng tiền khác (các đồng tiền khác lên giá so với USD, nhất là euro, bảng Anh, yen Nhật, nhân dân tệ, đô la Singapore, baht Thái...).

Lạm phát do hai yếu tố cơ bản: lạm phát do chi phí đẩy (trong đó có yếu tố "nhập khẩu lạm phát" làm chi phí đầu vào tăng) và lạm phát do cầu kéo.

Cũng chính vì thế, trước đây ngân hàng trung ương của các nước khi chống lạm phát thường dùng công cụ duy nhất: lãi suất (tăng lãi suất huy động để hút tiền từ lưu thông về, tăng lãi suất cho vay để hạn chế tiền ra lưu thông).

Nhưng trong điều kiện toàn cầu hóa và lạm phát mang tính chất toàn cầu như hiện nay, thì công cụ lãi suất không còn hiệu quả cao nữa, do đó người ta phải dùng thêm một công cụ nữa là tỷ giá. Ngay Trung Quốc trong nhiều năm liền giữ tỷ giá ở mức 8,25 NDT/USD, nhưng đến ngày 20/3/2008, tỷ giá đã ở mức 7,076 NDT/USD.

Đồng NDT đã tăng 1,05% so với đầu tháng 3, tăng 8,6% so với cùng kỳ năm trước, và tăng 14,2% so với lúc tỷ giá ổn định cách đây mấy năm.

Cũng chính vì thế, khi Công văn 319/TTg- KTTH của Thủ tướng Chính phủ được ban hành, nhiều chuyên gia đã cho rằng, trong 19 nhóm giải pháp kiềm chế lạm phát, thì giải pháp về tỷ giá sẽ có tác động lớn nhất.

Tất nhiên, chống "lạm phát nhập khẩu", ngoài việc nâng giá tiền đồng Việt Nam, các doanh nghiệp còn phải lựa chọn đồng tiền trong giao dịch, thanh toán xuất nhập khẩu.

Nhập khẩu được giao dịch, thanh toán bằng USD thì sẽ có lợi; xuất khẩu được thanh toán bằng đồng tiền khác đang lên giá so với USD cũng có lợi. Làm như vậy sẽ vừa giảm áp lực lạm phát do nhập khẩu, vừa hạn chế được tác động phụ do nâng giá đồng Việt Nam đối với nhập siêu.

Đương nhiên, việc hạn chế nhập siêu còn phải làm nhiều việc khác nữa, như đổi mới cơ cấu xuất khẩu, giảm tính gia công, tăng nội địa hóa, phát triển công nghiệp phụ trợ, nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của hàng hóa sản xuất trong nước...

Theo Ngọc Minh
Thanh Niên

Cùng chuyên mục

Xem thêm Kinh tế

Mới - Nóng