Nhiều vấn đề đặt ra với các tập đoàn kinh tế

TP - Báo cáo “Thực trạng và giải pháp phát triển bền vững tập đoàn kinh tế (TĐKT) ở Việt Nam” chỉ có 4 trang với 6 thành tựu chính của các TĐKT, trong khi phần tồn tại và hạn chế chiếm tới 8 trang.

Tập đoàn kinh tế nhà nước sử dụng vốn chủ sở hữu kém hơn tập đoàn kinh tế tư nhân. Ảnh minh họa: Như Ý.
Tập đoàn kinh tế nhà nước sử dụng vốn chủ sở hữu kém hơn tập đoàn kinh tế tư nhân. Ảnh minh họa: Như Ý.

Chạy đua thành tập đoàn

Sáng 10/2, tại Hội thảo Thực trạng và giải pháp phát triển bền vững TĐKT ở Việt Nam, do Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương (CIEM) tổ chức, Viện trưởng Nguyễn Đình Cung cho biết: Nhà nước đang cùng lúc làm 3 vai trò (xây dựng chính sách, chủ sở hữu doanh nghiệp (DN) và giám sát). Do đó, các bộ làm chính sách cũng là làm cho mình, thường chỉ giám sát người khác còn mình thì không. “Các cơ quan đại diện chủ sở hữu nhà nước đang mâu thuẫn với chính mình. Rõ nhất là ngành điện, không nước nào Bộ Công Thương ứng xử với ngành mình quản lý như Bộ Công Thương Việt Nam, đấy là cách ứng xử của chủ sở hữu, không phải cơ quan quản lý. Từ đó, thị trường không có cạnh tranh lành mạnh, tạo ra “địa tô” (đặc quyền, đặc lợi)”, ông Cung nói.

Lý giải việc lãnh đạo các DN nhà nước thích lên tập đoàn, ông Cung dẫn chứng: Chức chủ tịch và tổng giám đốc TĐKT ngang hàm thứ trưởng, do Ban Bí thư quản lý, nên dễ tiếp cận lãnh đạo hơn. Ngoài ra, khi có lợi ích nhóm, người có địa vị sẽ thành lập các Cty “sân sau” (công ty gia đình), thông qua giao dịch để thu lợi về mình và gia đình. “Cách duy nhất để khắc phục tình trạng trên là tự do hóa thị trường càng nhiều càng tốt. Đồng thời, thiết lập thể chế giám sát, cân bằng quyền lực người đại diện vốn nhà nước, để họ trung thành vì lợi ích nhà nước”, ông Cung nói.

“TĐKT tư nhân sử dụng vốn chủ sở hữu tốt và dường như đang phát triển bền vững hơn các TĐKT nhà nước”. 

(Báo cáo “Thực trạng và giải pháp phát triển bền vững TĐKT ở Việt Nam”)

TS Trần Tiến Cường, nguyên Trưởng Ban Cải cách đổi mới DN nhà nước (CIEM) đánh giá, dù đã hơn 10 năm thành lập TĐKT nhưng chúng ta vẫn loay hoay. “Không nên hô hào phát triển TĐKT, rồi trao đặc quyền, đặc lợi để khuyến khích. Nên để thị trường tự vận động, khi các DN phát triển tới mức đủ lớn sẽ thành tập đoàn. Nhà nước chỉ đứng ngoài kiểm soát nhằm hạn chế rủi ro tới nền kinh tế do các tập đoàn tạo ra, chống độc quyền…”, ông Cường nói.

Ông Bùi Văn Dũng, Trưởng ban Cải cách và Phát triển DN (CIEM) cho rằng, dù chúng ta chưa có một định nghĩa rõ ràng về tập đoàn, nên dẫn tới tình trạng lộn xộn, thậm chí chạy đua thành tập đoàn. Thậm chí, có tập đoàn là thành viên của Hiệp hội DN nhỏ và vừa. Ngoài ra, luật cho phép đặt tên DN là tập đoàn, nên nhiều DN nhỏ và vừa đặt tên là Cty CP Tập đoàn A, hoặc Cty TNHH Tập đoàn B… nhưng thực tế số vốn chỉ vài tỷ đồng, thậm chí mới bắt đầu kinh doanh.

Nhiều câu hỏi lớn

Qua nghiên cứu về TĐKT của nhóm tác giả thuộc CIEM, nhóm nhận thấy những năm gần đây quy mô các TĐKT nhà nước tăng nhanh, chiếm tỷ lệ áp đảo trong nhóm DN lớn nhất nước (15/20 DN lớn nhất Việt Nam). Các TĐKT nhà nước hầu hết giữ vị trí thống lĩnh những lĩnh vực then chốt của nền kinh tế, như khoáng sản, điện, dầu khí, gas, truyền thông, bảo hiểm…Trong khi đó, TĐKT tư nhân những năm gần đây tăng trưởng nhanh tài sản và vốn, dù vẫn rất nhỏ so với TĐKT nhà nước (tổng vốn của 8 TĐKT tư nhân lớn nhất chỉ bằng 15,5% tổng vốn của 8 TĐKT nhà nước). “TĐKT tư nhân sử dụng vốn chủ sở hữu tốt và dường như đang phát triển bền vững hơn các TĐKT nhà nước”, báo cáo đánh giá. Chẳng hạn, những năm gần đây, tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu của các TĐKT tư nhân duy trì ổn định khoảng 55%, trong khi tỷ lệ này ở các TĐKT nhà nước tăng nhanh (từ mức 1,92 lần năm 2010, lên 2,70  lần năm 2013).

Ông Bùi Văn Dũng (thành viên nhóm nghiên cứu) cho biết, hiện môi trường kinh doanh vẫn còn nhiều bất cập, chưa tạo điều kiện tối đa cho DN phát triển để hình thành TĐKT. Đặc biệt, DN tư nhân bị nhiều rào cản, chưa được bình đẳng với TĐKT nhà nước để tham gia lĩnh vực quan trọng của nền kinh tế, cũng như tiếp cận vốn, đặc biệt vốn ODA.

Theo ông Dũng, TĐKT nhà nước lâu nay quá coi trọng quy mô, hoạt động đa ngành nghề mà không tập trung vào mảng kinh doanh cốt lõi; vượt quá năng lực tài chính, quản trị… Kết cục, hiệu quả hoạt động của nhiều TĐKT nhà nước chưa tương xứng với các nguồn lực đang nắm giữ. Nhiều TĐKT nhà nước tham gia vào lĩnh vực rủi ro (như tài chính, ngân hàng, bất động sản, bảo hiểm), gặp khó khăn trong quản lý, giám sát khi thị trường có biến động mạnh. 

Do đó, nhóm nghiên cứu đề xuất, cần hướng tới việc thành lập TĐKT dựa trên nguyên tắc thị trường, dựa trên nhu cầu nội tại của các DN. Với TĐKT nhà nước, phải tái cơ cấu hướng tới sử dụng hiệu quả nguồn lực tài nguyên, vốn; thiết lập và vận hành hệ thống giám sát; nhà nước phải thực hiện tốt chức năng chủ sở hữu với tư cách một nhà đầu tư; áp dụng nguyên tắc, kỷ luật thị trường với tất cả các tập đoàn…

TS Đinh Quang Ty, Hội đồng lý luận Trung ương (đơn vị đặt hàng nghiên cứu) cho rằng, khi thành lập các TĐKT nhà nước, chúng ta chưa hiểu hết, nên thiên về chính trị nhiều hơn yếu tố kinh tế. “Phong trào TĐKT ai cũng biết, bên cạnh cái được đã có một số bất ổn lớn liên quan tới khối TĐKT nhà nước, khởi nguồn là Vinashin, rồi Vinalines. Trong 10 năm qua nền kinh tế VN có những trục trặc lớn, và những trục trặc đó liên đới gì với các TĐKT? lợi ích nhóm, sân sau có hay không…?, những câu hỏi lớn đó vẫn chưa được trả lời”, TS Ty nói.

Video đang được xem nhiều

Cùng chuyên mục

Xem thêm Kinh tế

Mới - Nóng

Khám phá