Nuôi cá chép vàng để đo ô nhiễm môi trường

Ngoài những máy móc hiện đại, quy trình chặt chẽ để kiểm tra chất lượng nước thải, khí thải, tại hồ chứa nước thải của nhà máy lọc dầu Dung Quất còn có những “nhiệt kế” rất đặc biệt. Đó là hàng đàn cá chép Nhật được thả, nuôi để kiểm tra chất lượng nước thải.

Nuôi cá chép vàng để đo ô nhiễm môi trường

Những “kỹ sư đặc biệt” canh môi trường

Mỗi vị khách đến thăm, đều ấn tượng với hồ cá với đủ loại cá chép đỏ, vàng ngay toà nhà văn phòng của công ty cổ phần lọc hoá dầu Dung Quất. Không chỉ nuôi làm cảnh, cá chép Nhật ở nơi đây còn đóng vai trò quan trọng, được ví như “kỹ sư đặc biệt” đo chất lượng nước thải ở hồ chứa nước thải.

Như thường lệ, những ngày đầu tháng 6, tại hồ chứa nước thải của nhà máy lọc dầu Dung Quất, BSR tổ chức thả thêm đợt các mới nhân dịp hưởng ứng Ngày môi trường thế giới năm 2019. Khoảng 10 kg cá chép vàng Nhật đã được thả bổ sung xuống hổ chứa nước thải. Với những người lần đầu đặt chân đến hồ chứa nước thải sẽ không nhận ra được. Thay vì những biểu hiện thông thường tại hồ nước thải như mùi hôi thối, hồ nước thải ở BSR ngoài cá chép còn có cả ba ba, tôm tép, vịt trời. Trên mặt hồ, từng khóm hoa súng nở xoè dưới cái nắng gay gắt của miền trung.

“Chúng tôi thả loài cây thủy sinh để chỉ thị cho chất lượng nước thải đầu ra. Các loài cây và con đều sinh sống phát triển tốt. Tất cả thông số nước thải Nhà máy sau xử lý luôn nằm trong giới hạn cho phép của QCVN 40:2011/BTNMT”, ông Nguyễn Quang Hưng, Phó trưởng Ban An toàn Môi trường BSR cho biết.

Với đặc thù của nhà máy lọc dầu, nước thải nhà máy gồm nhiều loại như nước nhiễm dầu bề mặt; nước nhiễm dầu và nước thải sinh hoạt. Sau khi phân tách dầu bề mặt ra khỏi dòng nước thải bằng phương pháp cơ học, nước thải được đưa đến công đoạn xử lý bằng phương pháp tuyển nổi (hóa lý)  để loại bỏ dầu và chất rắn lơ lửng có trong nước thải các tạp chất hữu cơ, dầu và những chất ô nhiễm hòa tancòn lại sẽ được xử lý bằng phương pháp sinh học.

Theo các kỹ sư môi trường ở BSR, sau khi phân hủy sinh học, dòng thải tiếp tục được đưa đến bể lắng,  bùn vi sinh sau khi lắng được quay lại bể xử lý sinh học phần nước sạch được đưa đến thiết bị lọc cát để loại bỏ những chất rắn lơ lửng còn lại và được đưa đến bể kiểm tra có thể tích khoảng 8000m3. Tại đây, nước thải sau xử lý được lấy mẫu và phân tích đáp ứng quy chuẩn môi trường trước khi đưa ra môi trường. Nếu không đáp ứng các quy định sẽ được bơm về để xử lý lại.

“Để đảm bảo nước thải đầu ra luôn trong mức an toàn, BSR lắp đặt thiết bị giám sát liên tục các thông số đầu ra của hệ thống xử lý như lưu lượng, pH, COD”, anh Hưng cho biết.

Không để xảy ra sự cố môi trường

Hệ thống xử lý nước thải chỉ là một phần trong tổng thể hệ thống xử lý an toàn môi trường của NMLD Dung Quất. Sau 10 năm vận hành thương mại đến nay, nhà máy chưa để xảy ra sự cố môi trường và đặt mục tiêu không để xảy ra sự cố môi trường trong quá trình vận hành. Để đạt mục tiêu này, nhà máy đầu tư hệ thống xử lý nước thải theo tiêu chuẩn của các nước G7.

Về kiểm soát các nguồn thải, Công ty đã đẩy mạnh đầu tư các công trình xử lý chất thải như xây dựng hệ thống xử lý nước thải kết hợp lý-hóa-sinh với công suất thiết kế 560 m3/h. Thiết kế chiều cao ống khói phù hợp và lắp đặt thiết bị lọc bụi tĩnh điện để xử lý dòng khí thải có chứa hàm lượng bụi cao. Lắp đặt hệ thống xử lý khí chua… đảm bảo chất lượng nguồn thải đạt các quy chuẩn, tiêu chuẩn về môi trường.

Đối với chất thải rắn, Công ty bố trí các điểm tập kết chất thải, thùng chứa chất thải tại từng khu vực làm việc để thu gom chất thải và xây dựng 2 kho chứa chất thải nguy hại và 1 kho chứa tạm thời chất thải công nghiệp. Chất thải sau khi được thu gom, phân loại sẽ được chuyển cho nhà thầu xử lý chất thải có giấy phép để xử lý đúng quy định của Nhà nước.

Tiết kiệm năng lượng… để bảo vệ môi trường

Bên cạnh việc vận hành hệ thống công nghệ hiện đại hiện có, kỹ sư của BSR luôn đẩy mạnh công tác tối ưu hóa sản xuất và tiết kiệm năng lượng. Bởi việc sử dụng năng lượng tiết kiệm hiệu quả sẽ góp phần giảm lượng khí nhà kính, bảo vệ môi trường.

Theo thống kê, tiêu thụ năng lượng tính trên khối lượng dầu thô chế biến đã giảm liên tục qua các năm vận hành, từ 7,81% năm 2012 xuống còn 7,26% năm 2016 đã tiết kiệm được tương đương với hàng chục nghìn tấn dầu.

Đây là kết quả của việc triển khai hàng loạt các giải pháp năng lượng, bao gồm các giải pháp vận hành và giải pháp đầu tư cải hoán. Chỉ tính riêng trong năm 2016, BSR đã thực hiện thành công 13 giải pháp giúp Công ty tiết giảm chi phí năng lượng khoảng 50 tỷ VNĐ/năm. Một số giải pháp tiêu biểu như: giảm tỷ lệ hồi lưu tháp NHT Splitter T1202 giúp tiết kiệm khoảng 20 tỷ VNĐ/năm , giảm áp suất đầu ra máy nén MAB giúp tiết kiệm khoảng 6 tỷ VNĐ/năm, giảm tỷ lệ tuần hoàn hydro (H2:Oil) ở phân xưởng CCR giúp tiết kiệm khoảng 7 tỷ VNĐ/năm,…

Trong công tác sáng kiến cải tiến, hợp lý hóa sản xuất, BSR đã triển khai thực hiện và áp dụng nhiều giải pháp hữu ích, góp phần đảm bảo vận hành an toàn, ổn định và mang lại hiệu quả kinh tế cao cho Nhà máy. Trong giai đoạn 2010-2016, Công ty đã công nhận công nhận 150 giải pháp là sáng kiến sáng kiến cấp Công ty, 248 giải pháp là Kaizen (hiệu quả kinh tế ước tính mang lại hàng chục triệu USD).

Cùng chuyên mục

Xem thêm Kinh tế

Mới - Nóng

Khám phá