Thị trường tiền tệ nóng lên: Đáng mừng nhưng tiềm ẩn rủi ro

Thị trường tiền tệ ở nước ta lại có biểu hiện nóng lên, lãi suất tiếp tục gia tăng. Song lãi suất nội tệ tăng và ở mức cao về trung và dài hạn rõ ràng ảnh hưởng đến hiệu quả của doanh nghiệp, của người vay, gây tiềm ẩn rủi ro chung.

Các ngân hàng thương mại Nhà nước, chiếm trên 75% thị phần huy động vốn tiếp tục tung ra các chiến dịch phát hành trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi...

Lãi suất huy động hấp dẫn, đang "bám sát" lãi suất huy động vốn nội tệ cùng kỳ hạn của các ngân hàng thương mại cổ phần, kèm theo các phần thưởng có giá trị lớn, các hình thức khuyến mại đa dạng. 

Nhiều ngân hàng thương mại cổ phần đô thị có quy mô lớn và có uy tín  cũng tiếp tục điều chỉnh tăng lãi suất huy động vốn nội tệ lên thêm 0,1% - 0,30%/năm, lãi suất huy động vốn ngoại tệ tăng thêm 0,2% - 0,25%/năm so với trước đây cho các kỳ hạn khác nhau.

Vậy tại sao có diễn biến như vậy? Trước hết, Ngân hàng Nhà nước đã thừa nhận lãi  suất nội tệ tăng lên do cung cầu vốn, là tất yếu của thị trường khi nhu cầu vốn của các thành phần kinh tế tăng cao. 

Lãi suất huy động vốn và lãi suất cho vay USD của các ngân hàng thương mại trong nước từ đầu năm 2005 đến nay cũng nhiều lần được điều chỉnh tăng lên và những ngày gần đây nhiều ngân hàng thương mại tiếp tục điều chỉnh tăng, tuy nhiên vẫn thấp hơn lãi suất thị trường quốc tế ở thời điểm hiện tại.

Hai là, trong toàn bộ hệ thống ngân hàng, cũng như tại nhiều ngân hàng thương mại có quy mô lớn, vốn huy động tăng chậm, còn dư nợ cho vay tăng nhanh. Tính chung trong toàn quốc, đến hết tháng 6/2005, tổng nguồn vốn huy động của các ngân hàng thương mại và tổ chức tín dụng tăng thấp hơn mức tăng dư nợ cho vay. 

Chẳng hạn, Ngân hàng Công thương Việt Nam tổ chức một chiến dịch huy động khoảng 3.000 tỷ đồng vốn từ trung tuần tháng 5/2005, nhưng sau gần 2 tháng chỉ huy động được 450 tỷ đồng. Một số ngân hàng thương mại Nhà nước khác vốn huy động không tăng hoặc tăng rất thấp. 

Ba là, ngoài kênh công trái giáo dục huy động khoảng 2.600 tỷ đồng, thì một số tổng công ty khác cũng phát hành trái phiếu hấp dẫn, cao hơn lãi suất cùng kỳ hạn của các ngân hàng thương mại Nhà nước, với khối lượng gần 1.000 tỷ đồng. Bên cạnh đó các kênh: tiết kiệm bưu điện, bảo hiểm nhân thọ, cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước, cổ phiếu, tiếp tục cạnh tranh thu hút vốn trong dân với hệ thống ngân hàng...

Bốn là, nhiều dự án lớn trong các lĩnh vực: xi măng, thuỷ điện, nhiệt điện, đầu khí, nhà ở,đến hạn giải ngân cho vay theo các hợp đồng tín dụng đã ký kết. Nhu cầu vốn của các doanh nghiệp vừa và nhỏ, của hộ nuôi trồng thuỷ hải sản, trồng cà phê, cao su, hồ tiêu... tăng mạnh. 

Năm là thị trường bất động sản có dấu hiệu đóng băng...

Nhu cầu vốn tăng cao, thị trường tiền tệ nóng lên, lãi suất gia tăng, chứng tỏ nhu cầu vốn của nền kinh tế tăng và cũng chứng tỏ nền kinh tế đang trên đà tăng trưởng khá. Đó là xu hướng tích cực và đáng mừng. 

Song lãi suất nội tệ tăng và ở mức cao về trung và dài hạn rõ ràng ảnh hưởng đến hiệu quả của doanh nghiệp, của người vay, gây tiềm ẩn rủi ro chung. Lãi suất huy động vốn USD tăng sẽ dẫn đến tình trạng Đôla hoá tài sản nợ - nguồn vốn huy động trong các ngân hàng thương mại tăng cao. 

Nếu như nhu cầu vay USD tăng chậm thì có thể USD sẽ được đầu tư trên thị trường tiền gửi quốc tế theo luật định và theo thông lệ, càng làm cho vốn nội tệ thêm khan hiếm. Do đó, trong điều hành chính sách kinh tế vĩ mô cần có sự xử lý linh hoạt để đạt được mục tiêu tăng trưởng, kiềm chế lạm phát tiền tệ và có nhận thức nhiều chiều về Đôla hoá.

Việc giải quyết tình trạng nợ đọng vốn xây dựng cơ bản, nợ mía đường của các doanh nghiệp Nhà nước, xử lý nợ tồn đọng của các vụ án kinh tế... không chỉ giải phóng vốn cho đầu tư, mà còn làm lành mạnh môi trường hoạt động tín dụng, làm lành mạnh tình hình tài chính các ngân hàng thương mại Nhà nước. Đây không chỉ là nỗ lực đơn phương của các ngân hàng thương mại!

Cùng chuyên mục

Xem thêm Kinh tế

Mới - Nóng

Khám phá