Gói thầu số 7, dự án mở rộng Nhà máy nhiệt điện Uông Bí:

Vì sao vượt dự toán trên 50 triệu USD vẫn được phê duyệt?

Theo quyết định được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, tổng kinh phí đầu tư cho dự án mở rộng Nhà máy nhiệt điện Uông Bí là 4.271,12 tỷ đồng. Nhưng khi triển khai thực hiện, gói thầu lại bị “đội” lên hơn 50 triệu USD so với dự toán ban đầu.

Dự án mở rộng Nhà máy nhiệt điện Uông Bí đang được triển khai    ảnh: đỗ Sơn
Dự án được chia ra làm 10 gói thầu, trong đó gói thầu số 7 (thiết kế, cung cấp thiết bị...) chiếm đến 70% tổng kinh phí của dự án. Tuy nhiên, khi triển khai thực hiện, mặc dù những thiết bị chính của gói thầu đã được chuyển từ thiết bị của nhóm nước G7 sản xuất (có giá cao) sang thiết bị của Nga (có giá thấp hơn), nhưng gói thầu lại bị “đội” lên hơn 50 triệu USD so với dự toán ban đầu.

Chào hàng 4 lần giá vẫn cao

Sau khi  ký quyết định phê duyệt dự án mở rộng Nhà máy nhiệt điện Uông Bí, để việc triển khai nhà máy được thuận lợi, ngày 21/3/2001, Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã có văn bản cho phép việc thực hiện dự án được triển khai theo cơ chế: Tổng Cty Điện lực Việt Nam (EVN-chủ đầu tư) được phép chỉ định đơn vị tư vấn nước ngoài liên doanh với Cty tư vấn điện 1 thực hiện nhiệm vụ tư vấn thiết kế kỹ thuật; tổng dự toán, lập kế hoạch đấu thầu, trong đó có gói thầu về thiết kế, cung cấp thiết bị, xây lắp để trao cho TCty Lắp máy Việt Nam (LILAMA) thực hiện.

Và để hạn chế những tiêu cực trong việc thực hiện gói thầu số 7 này, trong tờ trình xin phê duyệt kế hoạch đấu thầu của EVN (ngày 31/10/2001), chính EVN yêu cầu với những vật tư thiết bị không tự chế tạo, thì Tổng thầu LILAMA cần thực hiện mua sắm thông qua đấu thầu rộng rãi.

Ngày 21/12/2001, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt kế hoạch đấu thầu Dự án Nhà máy nhiệt điện Uông Bí mở rộng, với tổng mức đầu tư  là 4.271,12 tỷ đồng (tương đương 305,08 triệu USD). Sau đó, Thủ tướng đã có quyết định điều chỉnh vốn dự toán, theo đó gói thầu quan trọng nhất – gói thầu số 7 (thiết kế, chế tạo, cung cấp, lắp đặt, thử nghiệm, nghiệm thu và bàn giao nhà máy) có giá thầu là 3.036.158 triệu đồng (tương đương 216,87 triệu USD).

Việc thực hiện gói thầu này được Thủ tướng cho phép áp dụng hình thức chỉ định thầu, theo hợp đồng chìa khoá trao tay (EPC) với thời gian thực hiện hợp đồng là 34 tháng. Tại quyết định này, Thủ tướng Chính phủ cũng chỉ rõ rằng, giải pháp công nghệ trong gói thầu này phải theo công nghệ tiên tiến, hiện đại, thiết bị được nhiệt đới hoá; về môi trường và sinh thái phải theo quy định hiện hành.

Ngày 30/7/2002, EVN đã phát hành hồ sơ mời thầu (HSMT) gói thầu số 7 cho LILAMA. Ngày 18/11/2002, LILAMA đã nộp hồ sơ dự thầu (HSDT) với giá chào thầu là 333,99 triệu USD. Các thiết bị quan trọng nhất của gói thầu như lò hơi, tuabin, máy phát… đều là của các nước G7 (Mỹ, Pháp, Nhật Bản) đúng như ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ.

Tuy nhiên, qua đánh giá sơ bộ EVN thấy rằng HSDT có nhiều sai lệch về kỹ thuật và thương mại, chưa đáp ứng các yêu cầu cơ bản của HSMT, giá chào thầu cao hơn so với giá gói thầu được duyệt tới 124 triệu USD. Vì vậy EVN đã yêu cầu LILAMA chào phương án mới. Ngày 6/12/2002, LILAMA đã nộp HSDT lần 2 với giá chào thầu là 275,116 triệu USD.

Trong bản chào thầu lần 2 này, thay đổi cơ bản so với lần 1 là việc thay đổi nguồn gốc thiết bị từ các nước G7 sang G8 (các thiết bị quan trọng nhất như lò hơi, tuabin, máy phát trước là của Mỹ nay đổi sang Nga). Tuy nhiên, EVN cho rằng giá chào thầu vẫn còn quá cao so với giá gói thầu và tổng dự toán được duyệt. Vì vậy EVN lại yêu cầu LILAMA  tiếp tục chào lại giá.

Bản chào thầu lần 3 của LILAMA  có giá là 270,983 triệu USD. EVN lại một lần nữa yêu cầu LILAMA  giảm giá tiếp. Ngày 18/2/2003, LILAMA  đã gửi bản chào thầu lần 4 (lần cuối cùng) với giá 267,1 triệu USD, cao hơn giá được Thủ tướng Chính phủ và Bộ Công nghiệp phê duyệt trước đó là 50,23  triệu USD.

Điều đáng chú ý là, dù đã được chủ đầu tư đề nghị phải đấu thầu rộng rãi khi mua sắm các thiết bị của nước ngoài, nhưng LILAMA đã không thực hiện theo yêu cầu này mà chỉ thực hiện chào giá cạnh tranh. Dù tổng thầu không thực hiện theo yêu cầu của mình, nhưng EVN vẫn chấp nhận giá chào hàng này và báo cáo Bộ Công nghiệp chuẩn y.

Bộ Kế hoạch và đầu tư: Chưa đủ cơ sở để quyết định kết quả chỉ định thầu

Theo Bộ Kế hoạch - đầu tư  (cơ quan thẩm định dự án) thì HSDT còn có những nội dung chưa hoàn chỉnh, nhiều thông số kỹ thuật còn thiếu, đặc biệt là hệ thống phụ trợ, chưa thể hiện được tính chặt chẽ và đầy đủ (tổ chức thực hiện và quản lý dự án) của một HSDT theo hình thức EPC. Cụ thể là thiết bị lò hơi (một trong những thiết bị quan trọng nhất của nhà máy) công suất theo yêu cầu của HSMT là trên 300 MW.

Tuy nhiên, nhà thầu phụ chế tạo lò hơi (loại tuần hoàn tự nhiên) có công suất tối đa là 230 MW. Như vậy kinh nghiệm nhà thầu là chưa đáp ứng yêu cầu của HSMT. Thiết bị khử lưu huỳnh (GGD): năng lực nhà thầu phụ Siirtec Nigi (Italia) chưa đáp ứng hoàn toàn yêu cầu của HSMT.

Về giá: Giá đề nghị chỉ định thầu là 267,1 triệu USD, cao hơn 50,23 triệu USD so với giá gói thầu được duyệt. Theo báo cáo của EVN, đơn giá thiết bị tính trong tổng dự toán được lấy theo đơn giá thiết bị của các nước G7, trong khi thiết bị do LILAMA chào chủ yếu là thiết bị của Nga – G8 (có giá thấp hơn G7), nhưng giá chào vẫn cao hơn giá trong tổng dự toán được duyệt. Như vậy, theo quy chế đấu thầu hiện hành những việc làm như trên là không đảm bảo cơ sở quyết định trúng thầu.

Sau khi xem xét kỹ lưỡng bản chào thầu của LILAMA theo đề nghị của EVN và Bộ Công nghiệp, Bộ KH-ĐT cho rằng chưa có đủ cơ sở để thẩm định trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định kết quả chỉ định thầu gói thầu số 7.

Mặc dù vậy,  nhưng ngày 16/5/2003, Bộ trưởng Bộ Công nghiệp Hoàng Trung Hải vẫn ký quyết định phê duyệt hợp đồng EPC gói thầu số 7 Nhà máy nhiệt điện Uông Bí mở rộng với giá trị hợp đồng 267,1 triệu USD: cao hơn 50,23 triệu USD so với kế hoạch được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Thời gian thực hiện là 36 tháng: nhiều hơn 2 tháng so với kế hoạch được Chính phủ giao! 

Video đang được xem nhiều

Cùng chuyên mục

Xem thêm Kinh tế

Mới - Nóng