Nạn nhân của hủ tục “cầm đồ thuốc độc”:

Bị buộc trở thành “người rừng”

Vượt chặng đường cả trăm km, tôi đến Ba Dinh (Ba Tơ), đôi vợ chồng già Phạm Trường, Phạm Thị Đuôn đã nhiều năm nay sống cô độc giữa đồng Dinh. Họ chính là nạn nhân của trò “cầm đồ thuốc độc”.

Vợ chồng ông Trường, bà Đuôn nạn nhân của “cầm đồ thuốc độc”
Cái thứ này theo người già thì ngày xưa mới có. Đồ độc đó phải có râu cọp nhét vào măng tre, sau một thời gian sẽ hoá thành sâu. Con sâu này ăn măng tre, thải ra phân. Phân cho vào thức ăn, nước uống, đụng phải nó thì toi mạng.

Cơn gió thời gian đã thổi đi hết những tập tục xưa cũ, tàn ác. Thế nhưng, như là qui luật tác động xã hội, những tiêu cực đời sống trong suy tư đã trỗi dậy, không riêng gì ở đây mà cả vùng Sơn Hà, Sơn Tây. “Đồ độc” trở lại.

“Tất cả là do mình nói năng bậy bạ, doạ dẫm nọ kia, rằng tao sẽ cúng cho mày, hoặc trâu bò mày chết, rồi ganh ghét, nghi kỵ nhau rằng nhà đó, ông bà đó có “cầm đồ” phải đánh, phải giết, phải đuổi nó ra khỏi làng, còn không thì phải cúng trâu heo thôi…”.

Đó là lời đúc rút lại ở mấy người, từ cán bộ đến thường dân, mà tôi nghe được. Bao nhiêu người đã bị hành hạ, chết oan ức vì hủ tục này.

“Đồ” bây giờ không còn công phu cọp hổ gì nữa mà thường là thứ giẻ rách gói với lá đa, đất đào mả, một ít đồ chôn theo người chết. Tóm lại là thứ tả pí lù vô hại. Ghét ai, kẻ xấu đem nhét vào bếp, chuồng trâu, cột cử (nhét vào đây là đáng sợ nhất, bởi đây là cây cột chính bảo vệ nhà theo quan niệm đồng bào).

Lúc sướng lên là nó hét: “Có đồ”. Thế là khốn nạn. Có người ở Ba Tơ bị nghi, người làng xúm đánh mập mình, Người bắt vạ đòi cúng 3 trâu 3 heo. Công an xuống thuyết phục mãi, hạ xuống còn 1 trâu, 1 heo. Cúng xong, ăn uống tưng bừng, chả thấy ai đau hay chết gì.

Theo thống kê ở Sơn Hà, năm 2004 có 11 vụ nghi cầm đồ cúng chết người, trong đó 2 vụ nghiêm trọng đánh chết 1 người, 1 bị thương, đập phá toàn bộ tài sản người bị nghi. Ngay tại Sơn Kỳ (Sơn Hà), ông Đinh Trị bị nghi, bị vây đánh, đập phá nhà cửa, thậm chí một số cán bộ đảng viên cũng tham gia vụ này, ông phải lánh nạn vào trụ sở uỷ ban.

Có người ở Ba Trang (Ba Tơ) là bà Phạm Thị Rối bị cả thôn nghi ngờ, nhà bà cũng nghi nên con cháu đem bà ra…đánh! Ba Tơ trong 3 năm 2002-2004 có đến 20 vụ. Những con số đau lòng, như lời một cán bộ công an tại đây nói, rằng khổ không gì bằng cái nạn này, tuyên truyền giải thích chán chê, mình về rồi là họ lén làm.

Có vụ mới đây, Phạn Văn Xa, ở thôn Gòi Khôn xã Ba Dinh này, bị cả làng xúm lại đánh 4 ngày liên tiếp, huyện uỷ phải huy động người xuống cứu thoát. Vốn là lái trâu, trâu trong làng chết, thầy bói nghi Xa, cả làng nghi Xa “cầm đồ” trâu chết để mua cho rẻ, bắt Xa đưa “đồ” ra.

 Đến lúc bị đánh đau quá, Xa cũng đưa ra gói “đồ” là củ mai gang chữa đau bụng đem lén chôn cầu thang một số nhà. Cũng tại cái miệng Xa, ra ngoài uống rượu phách tấu rằng mình có đồ cho trâu bò nhà kia chết ! Khi đoàn công tác trở về, thì mấy ngày sau Xa bị giết chết.

Vượt chặng đường cả trăm km, tôi đến Ba Dinh (Ba Tơ), đôi vợ chồng già Phạm Trường, Phạm Thị Đuôn đã nhiều năm nay sống cô độc giữa đồng Dinh. Họ chính là nạn nhân của trò “cầm đồ thuốc độc”.

Tôi gặng hỏi: “Trước đây già ở đâu?” “Làng ông Đền trên kia, xuống đây được vài năm”. “Lấy cái gì mà ăn ?”. “Làm lúa. Ruộng cao không thuỷ lợi, khó lắm. Già rồi, không ai nuôi.  Đi làm thuê”. “Cho làng à?”. “Không, cho người Kinh”. “Lâu nay có ai đến thăm chơi không?”. “Làm gì có”.

Bà vợ từ dưới đi lên. Nhỏ thó. ăn trầu đỏ thắm môi. Chiếc váy đã rách mấy đường. Hết đứng vòng tay sau lưng ông, bà quì gập xuống cửa. Khác ông, bà chỉ nhìn chăm chăm nhưng có vẻ như vô định. Cái nhìn nhẫn nhục, bó gối suốt đời. Người tôi đi tìm là đây.

Người mách chuyện kể bà bị  nghi “cầm đồ”. Thân hình bé nhỏ như bất kỳ người phụ nữ vùng cao nào tôi đã gặp. Người như vậy mà đã bị  8 đàn ông cầm chày giã gạo đánh ư? Cái chuyện cầm chày mà đánh này, theo lời một cán bộ công an huyện là khá phổ biến. Có nơi, thay vì chày là họ ném đá như tội đồ của đạo Hồi.

Lạ thay, bà không chết, sáng mai lại đi xách nước vô tư. Càng nghi. Làng họp lại. Một quyết định tức thì được thông qua: Ra khỏi làng, nếu không sẽ chết. Thế là vợ chồng con cái kéo nhau về  khu đồi ngất ngưởng chỉ có gió và cây rừng vô tư này. Ma quỷ, độc địa gì ở người đàn bà đáng thương này? “Mế tên gì ?”. “Thôi, không nói”.

Tôi quay sang ông lẫn bà đều nhận được câu trả lời như thế lẫn cái nhìn dò xét của bà. Tôi nằn nì đến lần thứ tư : “Mế tên gì ?”. “Có cần nói không? “. “Cần”. “Tên là Đuôn”. “Có định về lại làng cũ không?” . “Không”. “Vì sao?”. “Không được về”. 

Tôi lại băng đồng. Đường ruộng phân vân, mềm nhũn. Có cái gì đó đang vỡ ra như bánh tráng nhúng nước. Trời bắt đầu ầng ậng đen. Gió vượt qua ngọn núi lớn bọc trước mặt, vấp phải đồi, tràn xuống thung lũng, thổi cuống quít mặt người.

Tôi quay lại nhìn. Vợ chồng ông già ra sát bờ ruộng đứng trông theo. Tự dưng tôi thấy sự xuất hiện của mình  lạc lõng và lạ lẫm. Tôi đã vô tình khuấy động thế giới cô độc của họ. Hơi chân người lạ đã bất ngờ chen vào cuộc đối thoại buồn tẻ và lặng im rất nhiều năm của họ với gió và cây rừng, không biết có để lại dư âm gì trong suy tư của ông bà già đã 75 tuổi?

Từ đường lộ vào đến nhà họ chỉ chừng 300 m. Đường điện giăng giăng, chỉ mỗi mình nhà họ là không có. Thoáng nhanh trong tôi trang sách  những số phận oan khiên bị từ chối, bị lưu đày trên chính quê hương. Đó là những tội ác vô hình và nguy hiểm, đáng sợ hơn cả nhát dao đường đạn trước mặt.

Với đồng bào thiểu số, bị từ bỏ, xua đuổi ra khỏi làng thì đó là hình phạt nặng nề nhất, bởi với họ, chỉ tồn tại đích thực  khi mình là đứa con của làng. Nhớ lời anh cán bộ công an: Chừng nào cái chữ chưa no, cái đói chưa bị đẩy lùi thì những chuyện như vậy vẫn chưa hết… 

Video đang được xem nhiều

Cùng chuyên mục

Xem thêm Pháp luật

Mới - Nóng

Khám phá