Luật sư nói về đề nghị 'xin thăm vợ, con' của Trịnh Xuân Thanh

TPO - Trước HĐXX vụ án kinh tế - tham nhũng xảy ra tại Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) và Tổng Cty CP xây lắp dầu khí Việt Nam (PVC), ngày 17/1, bị cáo Trịnh Xuân Thanh nói lời sau cùng, xin được tại ngoại thăm vợ con đang ở nước ngoài.

Bị cáo Trịnh Xuân Thanh tại phiên tòa.
Bị cáo Trịnh Xuân Thanh tại phiên tòa.

Ngày 17/1, tại phiên tòa xét xử vụ án kinh tế - tham nhũng xảy ra tại Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) và Tổng Cty CP xây lắp dầu khí Việt Nam (PVC), bị cáo Trịnh Xuân Thanh đã bật khóc khi nói lời sau cùng và xin Hội đồng xét xử (HĐXX) được tại ngoại để thăm vợ con đang ở nước ngoài. 

Liên quan đến vấn đề trên, luật sư Nguyễn Thanh Tùng – Giám đốc Cty luật ICC cho biết, trong hoạt động tố tụng hình sự, để kịp thời ngăn chặn tội phạm hoặc khi có căn cứ chứng tỏ người bị buộc tội sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc sẽ tiếp tục phạm tội hoặc để bảo đảm thi hành án, Cơ quan tiến hành tố tụng thường áp dụng biện pháp ngăn chặn là tạm giam.

“Tuy nhiên, trong một số trường hợp và căn cứ vào từng đối tượng, Cơ quan tiến hành tố tụng có thể áp dụng một số biện pháp ngăn chặn khác thay thế mà không nhất thiết phải tạm giam. Cụ thể, các biện pháp ngăn chặn có thể thay thế cho tạm giam theo quy định của Bộ Luật Tố tụng hình sự (TTHS) 2015 gồm có: (1) bảo lĩnh, (2) đặt tiền để bảo đảm, (3) cấm đi khỏi nơi cư trú, (4) tạm hoãn xuất cảnh. Chính vì khi áp dụng các biện pháp ngăn chặn thay thế này, người bị buộc tội không bị tạm giam, bị hạn chế quyền tự do đi lại mà vẫn được ở ngoài xã hội phục vụ công tác tiến hành tố tụng nên thường được gọi chung là “tại ngoại” – luật sư Tùng nói.

Về việc bị cáo Trịnh Xuân Thanh xin được tại ngoại để thăm vợ con, gia đình ở Đức, theo luật sư Tùng, tại Điều 124 của Bộ luật TTHS 2015 về “Tạm hoãn xuất cảnh” nêu rõ: “Có thể tạm hoãn xuất cảnh đối với những người sau đây khi có căn cứ xác định việc xuất cảnh của họ có dấu hiệu bỏ trốn: Người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố mà qua kiểm tra, xác minh có đủ căn cứ xác định người đó bị nghi thực hiện tội phạm và xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn hoặc tiêu hủy chứng cứ; Bị can, bị cáo.”

“Do bị cáo Trịnh Xuân Thanh trước đó đã bỏ trốn và bị bắt theo quyết định truy nã, đồng thời còn bị truy tố, xét xử trong 1 số vụ án khác nên khả năng được Tòa án chấp thuận đề nghị cho tại ngoại là rất khó” – luật sư Tùng cho biết.

Theo quan điểm của luật sư Tùng, trong trường hợp bị can, bị cáo được tại ngoại, để tránh bỏ trốn gây cản trở, khó khăn cho công tác tiến hành tố tụng hoặc phạm thêm tội mới, cần phải đảm bảo các yêu cầu sau đây:

Trước hết, Cơ quan tiến hành tố tụng khi áp dụng các biện pháp ngăn chặn thay thế tạm giam để cho bị can, bị cáo tại ngoại phải thẩm định và đảm bảo chặt chẽ các căn cứ mà pháp luật đã quy định, đồng thời phải đánh giá đầy đủ các yếu tố về tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi và nhân thân của bị can, bị cáo.

Tiếp đó, tùy theo từng biện pháp ngăn chặn để có sự phối hợp chặt chẽ với cá nhân, cơ quan, tổ chức liên quan trong giám sát, phát hiện và ngăn chặn kịp thời việc bỏ trốn của người được tại ngoại. Ngoài ra, cần nâng cao trách nhiệm của cá nhân, cơ quan, tổ chức liên quan bằng việc thực hiện nghiêm các chế tài mà pháp luật đã quy định đối với từng trường hợp cụ thể.

Điều 121. Bảo lĩnh

1. Bảo lĩnh là biện pháp ngăn chặn thay thế tạm giam. Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi và nhân thân của bị can, bị cáo, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án có thể quyết định cho họ được bảo lĩnh.

2. Cơ quan, tổ chức có thể nhận bảo lĩnh cho bị can, bị cáo là người của cơ quan, tổ chức mình. Cơ quan, tổ chức nhận bảo lĩnh phải có giấy cam đoan và có xác nhận của người đứng đầu cơ quan, tổ chức.

Cá nhân là người đủ 18 tuổi trở lên, nhân thân tốt, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật, thu nhập ổn định và có điều kiện quản lý người được bảo lĩnh thì có thể nhận bảo lĩnh cho bị can, bị cáo là người thân thích của họ và trong trường hợp này thì ít nhất phải có 02 người. Cá nhân nhận bảo lĩnh phải làm giấy cam đoan có xác nhận của chính quyền xã, phường, thị trấn nơi người đó cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc, học tập.

Trong giấy cam đoan, cơ quan, tổ chức, cá nhân nhận bảo lĩnh phải cam đoan không để bị can, bị cáo vi phạm các nghĩa vụ quy định tại khoản 3 Điều này. Cơ quan, tổ chức, cá nhân nhận bảo lĩnh được thông báo về những tình tiết của vụ án liên quan đến việc nhận bảo lĩnh.

3. Bị can, bị cáo được bảo lĩnh phải làm giấy cam đoan thực hiện các nghĩa vụ:

a) Có mặt theo giấy triệu tập, trừ trường hợp vì lý do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan;

b) Không bỏ trốn hoặc tiếp tục phạm tội;

c) Không mua chuộc, cưỡng ép, xúi giục người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật; không tiêu hủy, giả mạo chứng cứ, tài liệu, đồ vật của vụ án, tẩu tán tài sản liên quan đến vụ án; không đe dọa, khống chế, trả thù người làm chứng, bị hại, người tố giác tội phạm và người thân thích của những người này.

Trường hợp bị can, bị cáo vi phạm nghĩa vụ cam đoan quy định tại khoản này thì bị tạm giam.

Điều 122. Đặt tiền để bảo đảm

1. Đặt tiền để bảo đảm là biện pháp ngăn chặn thay thế tạm giam. Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi, nhân thân và tình trạng tài sản của bị can, bị cáo, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án có thể quyết định cho họ hoặc người thân thích của họ đặt tiền để bảo đảm.

2. Bị can, bị cáo được đặt tiền phải làm giấy cam đoan thực hiện các nghĩa vụ:

a) Có mặt theo giấy triệu tập, trừ trường hợp vì lý do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan;

b) Không bỏ trốn hoặc tiếp tục phạm tội;

c) Không mua chuộc, cưỡng ép, xúi giục người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật; không tiêu hủy, giả mạo chứng cứ, tài liệu, đồ vật của vụ án, tẩu tán tài sản liên quan đến vụ án; không đe dọa, khống chế, trả thù người làm chứng, bị hại, người tố giác tội phạm và người thân thích của những người này.

Trường hợp bị can, bị cáo vi phạm nghĩa vụ cam đoan quy định tại khoản này thì bị tạm giam và số tiền đã đặt bị tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.

Điều 123. Cấm đi khỏi nơi cư trú

1. Cấm đi khỏi nơi cư trú là biện pháp ngăn chặn có thể áp dụng đối với bị can, bị cáo có nơi cư trú, lý lịch rõ ràng nhằm bảo đảm sự có mặt của họ theo giấy triệu tập của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án.

2. Bị can, bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cư trú phải làm giấy cam đoan thực hiện các nghĩa vụ:

a) Không đi khỏi nơi cư trú nếu không được cơ quan đã ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú cho phép;

b) Có mặt theo giấy triệu tập, trừ trường hợp vì lý do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan;

c) Không bỏ trốn hoặc tiếp tục phạm tội;

d) Không mua chuộc, cưỡng ép, xúi giục người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật; không tiêu hủy, giả mạo chứng cứ, tài liệu, đồ vật của vụ án, tẩu tán tài sản liên quan đến vụ án; không đe dọa, khống chế, trả thù người làm chứng, bị hại, người tố giác tội phạm và người thân thích của những người này.

Trường hợp bị can, bị cáo vi phạm nghĩa vụ cam đoan quy định tại khoản này thì bị tạm giam.

Điều 124. Tạm hoãn xuất cảnh

1. Có thể tạm hoãn xuất cảnh đối với những người sau đây khi có căn cứ xác định việc xuất cảnh của họ có dấu hiệu bỏ trốn:

a) Người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố mà qua kiểm tra, xác minh có đủ căn cứ xác định người đó bị nghi thực hiện tội phạm và xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn hoặc tiêu hủy chứng cứ;

b) Bị can, bị cáo.

(Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015)

Video đang được xem nhiều

Cùng chuyên mục

Xem thêm Pháp luật

Mới - Nóng

Khám phá