Vụ xử ly hôn kỳ quặc giữa bà chủ và người làm thuê

TPCN - Một người đàn ông đã có vợ và 3 con ở Ô Môn (Cần Thơ) bỏ nhà lang thang đi làm thuê, được một góa phụ thương tình kêu làm mướn hơn 1 năm. Rồi ông ta bỏ đi và gần 1 năm sau quay lại đâm đơn xin… li hôn.

Bà Hoàng với người cháu bị nhiễm chất độc  da cam. Ảnh: Hồng Lĩnh
Qua 2 cấp xét xử tòa án tuyên “cưa đôi” một mảnh ruộng 12 công không có trong thực tế, người đàn bà không thể thi hành nên lại bị phạt 12 tháng tù.

Sự việc xảy ra đối với bà Nguyễn Thị Kim Hoàng, 54 tuổi, con của liệt sĩ Nguyễn Hoàng Banh, chị của liệt sĩ Nguyễn Hoàng Minh. Bà Hoàng cũng đang nuôi một người cháu bị nhiễm chất độc màu da cam.

Năm 1993, bà Nguyễn Thị Kim Hoàng tới sống và làm ruộng ở ấp Ngọc Vinh, xã Ngọc Chúc, (nay là ấp Ngọc Vinh, xã Ngọc Thuận, huyện Giồng Riềng, Kiên Giang).

Ông Trương Văn Cao ở xã Định Môn (Ô Môn, TP Cần Thơ) bỏ nhà lang thang đến xã Ngọc Chúc năn nỉ xin bà Hoàng làm mướn và ở luôn trong nhà. Ông Cao đã có vợ và 3 con ở Định Môn.

Sau hơn 1 năm làm mướn cho bà Hoàng (từ tháng 4/1993 đến 4/1994), hai bên xảy ra bất hòa, ông Cao nghỉ việc. Bà Hoàng trả tiền công cho ông Cao: 3 chỉ vàng và 20 giạ lúa (một giạ tương đương 21 kg lúa). Sự việc có nhiều người trong ấp xác nhận làm chứng. Rồi ông Cao bỏ đi.

Một năm sau, ngày 8/9/1995, ông Cao trở lại gửi đơn lên TAND huyện Giồng Riềng đòi xử ly hôn với bà Hoàng và chia tài sản chung là 12 công đất (?).

Bà Hoàng phản đối, bởi toàn bộ diện tích đất trồng lúa của bà Hoàng chỉ có khoảng 5 công, và bà không liên quan gì với ông Cao, không có quan hệ vợ chồng, không đăng ký hôn thú. Ngày 24/7/1995 TAND huyện Giồng Riềng đưa ra xét xử đã tuyên hủy hôn thú, buộc bà Hoàng chia đôi cho ông Cao đám đất 12 công, tức là chia cho ông Cao 6 công.

Tòa còn buộc bà Hoàng phải trả 100 giạ lúa là tiền công sức lao động trong thời gian ông Cao làm thuê. Ngày 14/10/1996, TAND tỉnh Kiên Giang xử phúc thẩm, buộc bà Hoàng chia cho ông Cao 5 công đất, giảm 1 công so với bản án sơ thẩm, và trả 100 giạ lúa.

Bà Hoàng đã không chịu thi hành án. Ngày 2/12/1998, Công an huyện Giồng Riềng đã ra quyết định khởi tố vụ án đối với bà Hoàng. Ngày 5/12/1998 bà Hoàng bị bắt tạm giam 2 tháng và sau đó TAND huyện Giồng Riềng xử, tuyên phạt bà 12 tháng tù treo.

Ngày 14/3/2001, Đội Thi hành án huyện Giồng Riềng cưỡng chế thi hành bản án số 54/DSPT của TAND tỉnh Kiên Giang thu 140 giạ lúa. Bà Hoàng khiếu nại lên Phòng Thi hành án tỉnh Kiên Giang.

Ngày 6/4/2001, Phòng Thi hành án tỉnh Kiên Giang có công văn số 50/CV-THA gửi Đội Thi hành án huyện Giồng Riềng: “Qua xác minh, thẩm tra hồ sơ sự việc, Phòng Thi hành án tỉnh xét thấy việc khiếu nại của bà Hoàng là có căn cứ xác thực.

Lãnh đạo Phòng Thi hành án có ý kiến chỉ đạo: Yêu cầu Đội Thi hành án huyện Giồng Riềng thu hồi quyết định cưỡng chế THA số 12 ngày 13/3/2001 của Đội và hủy bỏ việc cưỡng chế ngày 14/3/2001. Khôi phục toàn bộ số lúa đã cưỡng chế cho bà Hoàng.

Tạm thời hoãn việc thi hành 2 bản án dân sự số 54/DSPT ngày 14/10/1996 của TAND tỉnh Kiên Giang và Bản án hình sự sơ thẩm số 04/HSST ngày 19/3/2000 của TAND huyện Giồng Riềng để Phòng làm văn bản đề nghị Tòa Tối cao xem xét giám đốc thẩm vì 2 bản án đều tuyên không rõ cụ thể, không đúng thực tế tài sản Tòa án quyết định chia cho các bên đương sự”.

Tiếp đó, ngày 1/11/2002, Đoàn kiểm tra gồm nhiều đại diện Phòng Thi hành án tỉnh Kiên Giang ; Tư pháp, Thi hành án, Thanh tra huyện Giồng Riềng; Thanh tra, Địa chính xã Ngọc Thuận...do ông Huỳnh Thiện Cường-Phó phòng Thi hành án tỉnh Kiên Giang làm trưởng đoàn đã tiến hành kiểm tra, xác định lại diện tích đất thuộc phạm vi thi hành án.

Biên bản kiểm tra xác nhận: Phần đất của bà Hoàng chỉ có 7.500m2. Riêng chi tiết này đã khẳng định việc xét xử thiếu thực tế của TAND huyện Giồng Riềng và TAND tỉnh Kiên Giang.

Mặc dù việc thi hành án tạm ngưng nhưng bà Hoàng không hề nhận được văn bản nào từ phía cơ quan chức năng. Bà tiếp tục gửi đơn khiếu nại nhiều nơi để giải oan cho mình và chấm dứt việc cưỡng chế bằng văn bản, nhưng vẫn không được các cơ quan chức năng trả lời.

Mãi đến ngày 22/8/2005, bà bất ngờ nhận được quyết định số 08 của Phòng Thi hành án tỉnh Kiên Giang về giải quyết khiếu nại, trả lời với nội dung trái ngược lại công văn CV50-THA là không chấp nhận những nội dung khiếu nại và tiếp tục buộc bà Hoàng phải thi hành án bản án số 54/DSPT tháng 10/1996 của TAND tỉnh Kiên Giang.

Tiếp đến ngày 27/2/2006, Thi hành án huyện Giồng Riềng đã cưỡng chế 46 giạ lúa của bà Hoàng giao cho ông Cao. Tổng cộng đến nay bà Hoàng bị cưỡng chế 266 giạ lúa.

Ông Nguyễn Văn Út-Trưởng ấp Ngọc Vinh nói: “Ông Cao đến địa phương này không hề đăng ký tạm trú, chỉ là người làm thuê cho bà Hoàng. Chính quyền địa phương ngay từ đầu đã phản đối việc đưa vụ án ra xét xử li hôn. Đằng sau vụ này có điều gì đó thiếu minh bạch.

Ông Cao không có quyền gì để hưởng bất kỳ tài sản nào của bà Hoàng. Chính vợ và con ông Cao đã từng đến nhà bà Hoàng để lấy tiền công làm thuê.

Chúng tôi cũng không hiểu sao ông Cao lại được UBND huyện Giồng Riềng cấp cho một cái sổ đỏ trên đất bà Hoàng và họ cấp theo qui trình nào?. Về nguyên tắc tất cả những người được cấp sổ đỏ đều phải qua xác nhận ở ấp, xác nhận ranh giới giữa các hộ liền kề. Cái sổ đỏ đó làm mờ ám như thế nào chúng tôi hoàn toàn không biết”.

Ông Nguyễn Văn Nghiêm có đất giáp ranh với đất bà Hoàng nói: “Cái lô đất mà toà tuyên chia đôi cho ông Cao một nửa có nguồn gốc của ông Minh, diện tích 12 công.

Tôi và bà Hoàng cùng mua lại từ đầu năm 1993, với thoả thuận con kinh đào ngang sẽ là ranh giới để tính tiền đất mỗi bên. Khi con kênh đào qua lô đất tôi chỉ còn lại 2,5 công, bà Hoàng còn khoảng 5 công. Phải chăng Tòa đã căn cứ theo lời khai của ông Cao và sơ đồ hiện trạng đất của chủ trước để tuyên án?”

Tòa căn cứ vào đâu để xử li hôn và chia tài sản? Chánh án TAND huyện Giồng Riềng-ông Nguyễn Thành Nghề nói: “Người trực tiếp xét xử vụ án đó đã chuyển công tác khác từ lâu. Có thể tòa xét xử theo hôn nhân thực tế (?) và theo đơn yêu cầu của đương sự. Còn việc chia tài sản hồi đó Tòa chỉ căn cứ vào giấy chứng nhận QSDĐ có xác nhận của Địa chính. Tóm lại Tòa chỉ xử trên giấy và xử theo lời khai mà thôi”. 

Tiếp xúc với phóng viên báo Tiền phong, bà Hoàng bức xúc: “Mãi sau này tôi mới biết âm mưu đòi li hôn của ông Cao là để lấy một phần đất của tôi. Trong khi chính quyền địa phương phản đối thì Tòa lại làm một việc trái với sự thật, đẩy tôi vào vòng lao lý.

Đội Thi hành án mỗi lần đến xúc lúa của tôi là dùng dùi cui, sức mạnh, trói tôi lại đến khi ghe chở lúa chạy mới tháo tôi ra. Họ nói tôi không chấp hành án giao đất cho ông Cao thì coi như tôi đang thuê đất của ông ta và phải đóng lúa hoặc tiền thuê đất hàng năm. Nỗi oan trái này không biết bao giờ mới được giải?”.

Video đang được xem nhiều

Cùng chuyên mục

Xem thêm Pháp luật

Mới - Nóng

Khám phá