3 thử nghiệm y học rùng rợn trên người

Ảnh minh họa: Internet
Ảnh minh họa: Internet
Nhờ Đạo luật Tự do thông tin mà gần đây, tại Mỹ, Chính phủ đã cho công bố nhiều hồ sơ được bưng bít hàng thập kỷ nay, trong đó có cả những vụ thử nghiệm y học kinh hoàng

Nhờ Đạo luật Tự do thông tin mà gần đây, tại Mỹ, Chính phủ đã cho công bố nhiều hồ sơ được bưng bít hàng thập kỷ nay, trong đó có cả những vụ thử nghiệm y học kinh hoàng được thực hiện ngay trên cơ thể con người, rùng rợn hơn cả những thí nghiệm do Đức Quốc xã thực hiện trong Chiến tranh Thế giới thứ II.

Kích thích điện để điều trị đồng tính luyến ái

Năm 1970, BS. Robert Heath ở Đại học Tulane đã thực hiện một nghiên cứu “khủng” bằng cách kích thích não triệt để mà Heath gọi là thử nghiệm điều trị chứng bệnh đồng tính luyến ái. 

Trong nghiên cứu, một thanh niên đồng tính 24 tuổi được sử dụng làm “chuột bạch”, mang bí số B-19. Ứng viên B-19 không chỉ đồng tính luyến ái mà còn mắc cả bệnh hoang tưởng và trầm cảm. Theo Robert Heath, việc sử dụng điện kích thích vùng vách ngăn não nơi xử lý niềm vui sẽ chữa được căn bệnh nói trên. 

Trước tiên, Heath cho áp điện cực vào dưới hộp sọ và tiến hành sốc điện não. Theo báo cáo, người thanh niên này thực sự thấy phấn chấn hẳn lên. 

Do mang lại hiệu quả tức thì nên người trong cuộc đã tự làm cú sốc thứ hai và dần dần dẫn đến tình trạng nghiện sốc điện, anh ta đã được thực hiện đến hàng ngàn lần trong những năm sau đó. Cũng trong thời gian nói trên, Robert Heath đã tiến hành theo dõi các hoạt động của não bộ, đặc biệt khi B-19 thủ dâm với sự trợ giúp của tranh ảnh khiêu dâm khác giới.

Phần cuối của thí nghiệm, Robert Heath cho bệnh nhân quan hệ tình dục khác giới với một phụ nữ làng chơi do chính Heath thuê. Trong quá trình hoạt động tình dục, Robert Heath liên tục tiến hành sốc não cho B-19, nhưng lạ thay, càng được sốc điện, B-19 lại càng thờ ơ với bạn tình. 

Trong cuộc phỏng vấn được tiến hành 1 năm sau đó, bệnh nhân cho biết anh ta thường xuyên quan hệ tình dục với cả nam lẫn nữ. Đến đây, có thể kết luận, thử nghiệm của Robert Heath thành công một phần, nhưng chính Heath đã cảm thấy sợ nghiên cứu này, không bao giờ quay lại chủ đề trên hay cố gắng để chữa bệnh đồng tính luyến ái nữa.

Trong nhiều thập kỷ, việc dùng dòng điện để trị bệnh tâm thần đã gây tranh cãi trong giới y khoa và tạo ra các phản ứng trái chiều trong dư luận. Người ta lo ngại đến tác dụng phụ như động kinh hay trầm cảm, nhất là khi dòng điện bị lạm dụng có thể gây nghiện không khác gì ma túy hoặc tác dụng phụ khác như gây kích ứng da, đau đầu cho đến việc lệ thuộc vào dòng điện, thậm chí còn tạo ra “quả bom đồng tính”, biến quân đội đối phương thành đội quân có mức ham muốn tình dục cao bất thường như Bộ Quốc phòng Mỹ gần đây dự đoán.

Thí nghiệm về ung thư

Chủ nhiệm dự án là Chester M. Southam, chuyên gia nghiên cứu ung thư của Mỹ những năm 60 của thế kỷ trước. Mục đích tìm ra tác động của hệ miễn dịch lên khối u và khám phá lý do cơ thể con người lại bị suy yếu bởi bệnh tật và khả năng chống chọi lại tế bào ung thư. 

Để thực hiện dự án này, Chester đã nhắm tới Bệnh viện bệnh mạn tính Do Thái ở New York làm nơi thí nghiệm. Ban đầu, cuộc thử nghiệm “phi điều trị” chỉ được phép thực hiện trên người cao tuổi và bệnh nhân giai đoạn cuối. 

Các bác sĩ đang điều trị cho bệnh nhân đã bị qua mặt và không hề hay biết, nhưng không hiểu sao Chester lại thuyết phục được ban giám đốc, vì vậy, các kết quả thí nghiệm sau này đã được giấu kín.

Trong nghiên cứu, Chester đã tiêm tế bào ung thư sống vào cơ thể 22 phụ nữ cao tuổi đang điều trị tại bệnh viện. 

Trước khi tiêm, Chester đã lừa những người này rằng họ được bổ sung tế bào khỏe mạnh nhằm giúp cơ thể nhanh chóng phục hồi nhưng thực chất là tế bào ung thư sống. Chuyện vỡ lở, Chester bị tước giấy phép hành nghề có thời hạn nhưng sau đó vẫn được bổ nhiệm chức Chủ tịch của Hiệp hội Ung thư Hoa Kỳ. 

Dự án nói trên làm cho người ta nhớ đến một thử nghiệm tương tự do các nhóm nghiên cứu ở Đại học Washington thực hiện bằng cách chiếu xạ trực tiếp lên tinh hoàn của 232 tù nhân nhằm kiểm chứng hiệu ứng bức xạ lên chức năng của tinh hoàn. Và khi mãn hạn tù, những người này đã lấy vợ nhưng có tới 4 người sinh con bị dị tật.

Thí nghiệm Vanderbilt

Theo  hồ sơ vừa được giải mật, năm 1945, nhóm chuyên gia ở Đại học Vanderbilt đã thực hiện một thí nghiệm gây chấn động, liên quan đến mức độ hấp thụ chất sắt trong cơ thể phụ nữ mang thai. 

Trong nghiên cứu, có 829 phụ nữ mang thai được kê đơn dùng viên thuốc đặc biệt có chứa chất phóng xạ với nồng độ cao gấp 30 lần mức cho phép. Mục tiêu chính của dự án là đo kiểm ảnh hưởng của chất phóng xạ lên thai nhi. 

Hậu quả, 3 đứa trẻ đã bị ảnh hưởng nghiêm trọng bởi chất phóng xạ và tử vong. Mục đích nghiên cứu không hiểu có hoàn thành kế hoạch hay không nhưng tai họa là có thật, kéo theo vụ kiện do 3 phụ nữ nói trên làm đại diện.

Theo hồ sơ vụ kiện, trung tâm y học của Vanderbilt đã tiến hành thử nghiệm dài 4 năm, bắt đầu từ năm 1945, làm cho nhiều trường hợp lâm vào cảnh bần cùng, bệnh tật. 3 người phụ nữ này là Emma Craft, Helen Hutchison và con gái là Barbara. 

Tất cả vừa điều trị bệnh lại vừa theo kiện, tìm cách tiếp cận các hồ sơ của vụ án. Nhờ đạo luật tự do thông tin buộc Chính phủ Mỹ phải công bố thông tin. Đầu năm 1994, bà Craft (lúc này đã 72 tuổi) xuất hiện tại phiên điều trần của Thượng viện tổ chức ngày 25/1/1994, bà cáo buộc, cuộc thử nghiệm nói trên đã làm cho nhiều người thân tàn ma dại, gây ra cái chết thương tâm cho con gái 11 tuổi của bà hồi năm 1959. 

Còn bà Helen Hutchison thì bức xúc, lúc tham gia thử nghiệm, bà đang mang thai Barbara, làm cho cả hai mẹ con cùng mắc phải chứng bệnh được công bố công khai là “phơi nhiễm phóng xạ”.

Phản ứng về vụ kiện, phát ngôn viên của ĐH Vanderbilt, ông Bill Hance đã lặng thinh không bình luận nửa lời. Tại buổi điều trần, ông Joseph C. Ross - Phó Giám đốc Trung tâm Y học Vanderbilt đã phủ nhận hậu quả và cho rằng đây chỉ là một tai nạn nghề nghiệp, một nghiên cứu khoa học thuần túy, nồng độ phóng xạ nằm trong ngưỡng cho phép. 

Sau nhiều năm tranh cãi, cuối cùng, theo phán quyết của tòa, Đại học Vanderbilt đã phải bồi thường cho các nạn nhân số tiền lên tới 10 triệu USD.

Theo Sức khỏe & Đời sống
MỚI - NÓNG