Tố cáo ngoại tình, ai sẽ phải đi tù?

Em nghe nói là những người ngoại tình sẽ bị phạt tù. Em đang rất băn khoăn về trường hợp của mình.

Ảnh minh hoạ: Internet
Ảnh minh hoạ: Internet
Vợ chồng em đã có với nhau 2 đứa con một trai, một gái, gia đình tương đối ổn định. Nếu như không nói là mẫu gia đình nhiều người mong muốn. Thế nhưng chuyện bắt đầu từ khi em mang bầu và sinh đứa con thứ 2. Lúc đầu em cứ nghĩ do em mang thai và sinh con nên chồng “chểnh mảng” chuyện ấy.

Nhưng nay em đã sinh con được 6 tháng, cuộc sống vợ chồng cũng không cải thiện. Em đã âm thầm theo dõi và phát hiện chồng có cặp bồ với một người khác. Em đã cho anh cơ hội để sửa sai nhưng anh vẫn chứng nào tật ấy.

Nếu bây giờ em làm căng có thể tố cáo được người phụ nữ kia không? Cả hai người có phải đi tù hay không? Xin luật sư tư vấn giúp.

Luật sư tư vấn: 

Căn cứ theo quy định tại Điều 182 Bộ luật hình sự 2015 (có hiệu lực thi hành ngày 01/7/2016) thì:

“1. Người nào đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm:

a) Làm cho quan hệ hôn nhân của một hoặc hai bên dẫn đến ly hôn;

b) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Làm cho vợ, chồng hoặc con của một trong hai bên tự sát;

b) Đã có quyết định của tòa án hủy việc kết hôn hoặc buộc phải chấm dứt việc chung sống như vợ chồng trái với chế độ một vợ, một chồng mà vẫn duy trì quan hệ đó.”

Theo đó, chủ thể (người thực hiện hành vi phạm tội) của tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng có thể là:

1. Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác, hoặc;

2. Người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ.

Vì vậy, có thể truy cứu một trong hai hoặc cả hai chủ thể trong sự vi phạm này khi hội tụ đủ các điều kiện luật định. Để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ thì phải chứng minh được họ biết rõ đối phương đã kết hôn nhưng vẫn thực hiện hành vi kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng.

Mặt khách quan của tội phạm là hành vi kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng. Cụ thể:

Kết hôn là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng với nhau theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn.

Chung sống như vợ chồng là việc nam, nữ tổ chức cuộc sống chung và coi nhau là vợ chồng. (Luật Hôn nhân và gia đình 2014). Vì vậy nếu chỉ có hành vi “cặp bồ” không có kết hôn hoặc không chung sống như vợ chồng thì không thể xử lý hình sự, chỉ có thể xử lý hành chính. Tuy nhiên, nếu đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm thì sẽ xử lý hình sự.

Ngoài ra, để đủ yếu tố cấu thành tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng thì hành vi của các chủ thể phải thuộc một trong các trường hợp là:

“a) Làm cho quan hệ hôn nhân của một hoặc hai bên dẫn đến ly hôn;

b) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm.

c) Làm cho vợ, chồng hoặc con của một trong hai bên tự sát;

d) Đã có quyết định của tòa án hủy việc kết hôn hoặc buộc phải chấm dứt việc chung sống như vợ chồng trái với chế độ một vợ, một chồng mà vẫn duy trì quan hệ đó.”

Do đó, không thể nói cứ “ngoại tình” là bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Đối chiếu với các dữ liệu cô cung cấp nêu trên thì chồng của cô ngoại tình với người phụ nữ kia nhưng họ không có hành vi chung sống như vợ chồng (làm đám cưới, giới thiệu với hàng xóm, bà con, ăn ở hàng ngày cùng một nhà, làm việc để xây dựng cuộc sống gia đình, sinh con đẻ cái…) mà mọi việc chỉ giới hạn trong sự lén lút quan hệ giữa họ mà thôi. Vì vậy không thể xử lý hình sự được. Nếu có đủ cơ sở thì có thể xử lý vi phạm hành chính theo Nghị định 67/2015 sửa đổi bồ sung Nghị định 110/2013, tại Điều 48 quy định mức phạt về loại hành vi vi phạm này thì khoản 1 bị phạt tiền từ 1 triệu đồng đến 3 triệu đồng, vi phạm thuộc khoản 2 bị phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 20 triệu đồng.

Xin nói thêm, tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng không phải là loại tội mới được Bộ luật Hình sự 2015 quy định. Bộ luật Hình sự 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) đã có quy định tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng tại Điều 147. Bộ luật Hình sự 2015 chỉ quy định cụ thể, chi tiết hành vi làm căn cứ định tội để truy cứu trách nhiệm hình sự cũng như định khung hình phạt một cách chi tiết, cụ thể hơn.

Tư vấn bởi luật sư.Nguyễn Thành Công- Công ty Đông Phương Luật, ĐLS TP.HCM

Theo Vietnamnet

Cùng chuyên mục

Xem thêm Sức khỏe

Mới - Nóng

Khám phá