Đại sứ đặc mệnh toàn quyền LB Nga A.G.Kovtun:

Quan hệ Nga - Việt: Mật thiết và cảm động

TP - Nhân kỷ niệm 60 năm thiết lập quan hệ ngoại giao giữa Liên Xô/Nga và Việt Nam (30-1-1950; 30-1-2010), Đại sứ LB Nga tại Việt Nam Kovtun đã trả lời phỏng vấn báo Tiền Phong.

Đây là một trong những cuộc trả lời phỏng vấn đầu tiên của Đại sứ sau khi ông thay thế đại sứ Serafimov hết nhiệm kỳ về nước vài tháng trước đây.

Bên tượng đài Cam Ranh

Đại sứ Kovtun nói: Ngày nay Liên bang Nga và Việt Nam là đối tác chiến lược và những người bạn tin cậy, cùng nhau tiến lên phía trước tìm những hướng hợp tác mới có lợi cho cả hai. Và tôi cho rằng đây là thành công quan trọng nhất của chúng ta.

Sáu mươi năm nhìn lại,  ngài Đại sứ hãy điểm qua những gì chính yếu trong quan hệ giữa hai nước chúng ta. 

Chúng tôi đã ở bên các bạn trong những năm tháng chiến tranh khó khăn nhất của dân tộc Việt Nam, đã cùng các bạn khôi phục lại nền kinh tế quốc dân. Cùng nhau đặt nền móng cho những ngành công nghiệp nòng cốt của Việt Nam, trong số đó  có than, dầu khí và năng lượng.  Đến nay, những ngành này vẫn đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam.

Đại sứ A.G.Kovtun
Với sự giúp đỡ về kỹ thuật của Liên Xô, Việt Nam đã xây dựng được những nhà máy nhiệt điện và thủy điện với công suất hơn 4.000 MW, bao gồm cả nhà máy thủy điện lớn nhất - thủy điện Hòa Bình.

Ví dụ điển hình của mối quan hệ mật thiết giữa hai nước là Liên doanh dầu khí Vietxovpetro.

Chúng ta cũng có những kinh nghiệm trong hợp tác về giáo dục: từ những năm 1950 tới nay, đã có hơn 150 nghìn sinh viên, thực tập sinh, nghiên cứu sinh của Việt Nam theo học và làm việc tại Nga. Trong số đó có hơn 30 nghìn sinh viên đại học, khoảng 2 nghìn tiến sỹ và hơn 200 tiến sỹ khoa học.

Chúng ta cũng đã cùng nhau vượt qua được cái ngưỡng khó khăn trong quan hệ hai nước những năm 90 của thế kỷ trước đầy thử thách đối với mỗi bên và bảo tồn được những giá trị chung.

Đây chỉ là một vài mốc của cả quãng lịch sử 60 năm quan hệ. Tôi biết rằng người Việt Nam rất coi trọng sự giúp đỡ của chúng tôi.

Về phía mình, nhân dân Nga sẽ không bao giờ quên, vào năm 1941 trong số những người lính chiến đấu bảo vệ Matxcơva có cả những người Việt.

Và triển vọng phát triển của mối quan hệ này trong tương lai?

Quan hệ hợp tác Việt - Nga đang tiếp tục phát triển trên mọi mặt. Những doanh nghiệp của Nga tiếp tục tham gia đầu tư vào Việt Nam. Liên doanh dầu khí Vietxovpetro vươn sang khai thác mỏ dầu tại Nga trong khuôn khổ của Cty Rusxovpetro. Cty cổ phần Gazprom của Nga hợp tác với Petrovietnam tại Việt Nam.

Ngày nay có khoảng 1,5 nghìn sinh viên Việt Nam đang theo học tại Nga. Và sự đột phá trong lĩnh vực này là việc thành lập Trường ĐH kỹ thuật Việt - Nga tại Việt Nam. Vấn đề này đang được hai nước xem xét.

Cuộc đối thoại chính trị ở tất cả các cấp đều ở mức độ tin tưởng và hiệu quả cao. Ví dụ cuối cùng điển hình cho việc này là cuộc gặp mặt giữa Tổng thống Nga Medvedev và Chủ tịch Việt Nam Nguyễn Minh Triết bên thềm Diễn đàn APEC tại Singapore vào tháng 11-2009.

Rất nhiều thỏa thuận có tầm quan trọng đặc biệt đã đạt được trong chuyến thăm Nga của Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng ngày 14 và 15-12-2009.

Nói tóm lại, quan hệ giữa hai nước chúng ta mang tính chất bao trùm mọi mặt. Thái độ về chính trị của lãnh đạo và lòng tự nguyện của nhân dân hai nước cho phép khẳng định rằng trong tương lai chúng ta sẽ đạt được tất cả những mục tiêu to lớn đã đặt ra.

Thưa đại sứ, ngài đánh giá thế nào về những sự kiện diễn ra gần đây như việc xây dựng tượng đài kỷ niệm những người của hai nước hy sinh vì hoà bình và ổn định trong khu vực tại Cam Ranh hay cuộc gặp gỡ thầy trò Xô/Nga - Việt?

Việc xây dựng tượng đài Cam Ranh là một sự kiện rất xúc động. Đó là tượng đài tôn vinh người lính Nga đầu tiên ở ngoài lãnh thổ Nga trong giai đoạn sau Liên Xô.

Nhân dân Nga ghi nhận tấm lòng của lãnh đạo và nhân dân Việt Nam. Nó chứng tỏ một cách sâu sắc nhất sự ghi nhận những đóng góp của chúng tôi.

Tượng đài có ý nghĩa biểu tượng sâu sắc: chuyển giao cây gậy tiếp sức cho thế hệ tương lai của hai nước, bởi ký ức về tình bạn, tình đồng chí đã được lưu giữ vĩnh viễn một cách chính thức.

Còn cuộc gặp gỡ thầy trò Nga - Việt thì tôi không thể ngờ lại có quy mô lớn như vậy. Tôi tận mắt chứng kiến đạo nghĩa thầy trò của người Việt Nam và những tình cảm đặc biệt mà họ dành cho các thầy cô giáo Nga nói riêng và nước Nga nói chung.

Chứng kiến cuộc gặp gỡ, tôi thấy được thành quả to lớn của những công việc mà chúng ta đã làm được trong thời gian vừa qua.

Tại cuộc gặp gỡ, ngài đã phát biểu tiếng Nga rồi tự dịch ra tiếng Việt. Tại một chương trình truyền hình trực tiếp, đó là một việc làm tương đối mạo hiểm với một quan chức ngoại giao cao cấp. Vì sao ngài quyết định mạo hiểm?

Tôi học tiếng Việt ở một trường đại học ở Mátxcơva. Vốn tiếng Việt ấy được rèn giũa trong những năm tôi làm Tổng lãnh sự LB Nga tại TP Hồ Chí Minh.

Ngoại ngữ là một phương tiện làm việc, tôi cố gắng làm chủ phương tiện đó và sử dụng nó mỗi khi có thể. Tôi sẽ chỉ thôi nói tiếng Việt khi có ai trong các bạn nói, ông Kovtun ơi, ông nói gì chúng tôi không hiểu.

Ngoài công việc chính thức, ngài có nghiên cứu gì về Việt Nam như một thú vui cho riêng mình không?

Tôi thích văn học sử Việt Nam, nhất là các hồi ký. Tôi thích đọc các hồi ký của các nhân vật về giai đoạn những năm 70 - 90 thế kỷ trước, đọc để so sánh với những trải nghiệm của mình ở Việt Nam cũng chính trong giai đoạn đó. Việc đọc và nghiên cứu này rốt cuộc cũng quay lại phục vụ cho công việc.

Ngài sống ở Việt Nam một thời gian dài vì nhiệm vụ, còn vợ con ngài thì sao?

Việt Nam đối với gia đình tôi không chỉ là nơi tôi làm việc. Con trai đầu của chúng tôi đã chào đời ở TP Hồ Chí Minh. Việt Nam là nơi chôn rau cắt rốn của cháu. Việt Nam cũng là nơi vợ chồng tôi sống những năm tuổi trẻ của mình. Những ngày vất vả nhất khi con còn nhỏ cũng trôi qua ở đây.

Hiện nay, ngoài công việc, gia đình tôi có nhiều mối quan hệ bạn bè rất tốt đẹp với các bạn Việt Nam.

Cảm ơn ngài Đại sứ.

Lê Xuân Sơn
Thực hiện

Video đang được xem nhiều

Cùng chuyên mục

Xem thêm Thế giới

Mới - Nóng

Khám phá