Từ thế kỷ XIX, Việt Nam và Mỹ đã tiếp xúc ngoại giao...

TPCN - Văn kiện ngoại giao đầu tiên của Việt nam với Châu Âu là vào thế kỷ XVII. Với Mỹ thì thế kỷ XIX ta bắt đầu có quan hệ.

Theo sử sách để lại: 13 tháng Giêng năm Tân Tỵ (1641, niên hiệu Dương Hòa thứ 7), xứ Đàng ngoài có hai bức quốc thư, một của vua Lê, một của thái tử nhờ sứ thần Hà Lan mang về cho Viên toàn quyền của họ ở Batavia.

Tổng thống Mỹ Ulysses S. Grant (1822-1885)
Viên toàn quyền là người đại diện cho chính phủ Hà Lan đủ thẩm quyền giải quyết mọi vấn đề ở châu Á nên hai bức quốc thư này được coi như hai văn kiện ngoại giao đầu tiên của nước ta với phương Tây.

Thế nhưng, việc tiếp xúc giữa Hoa Kỳ với nước ta đến thế kỷ XIX mới bắt đầu.

Điều đó không lạ, vì đến ngày 4/7/1776, Bản Tuyên ngôn Độc lập của nước Mỹ mới ra đời, 13 tiểu bang thoát khỏi ách thống trị của nước Anh và đến ngày 30/4/1789 mới có vị Tổng thống đầu tiên của Hoa Kỳ tuyên thệ nhậm chức đó là G. Washington.

Đến đời Tổng thống thứ năm của Hoa Kỳ là James Monroe thì thương thuyền của Hoa Kỳ mới bắt đầu tỏa đi các nước châu á để giao dịch buôn bán.

Năm Kỷ Mão (1819, niên hiệu Gia Long thứ 18), hai chiếc thương thuyền Hoa Kỳ cập bến cảng Sài Gòn (Gia Định) để mua đường. Tổng trấn Gia Định bấy giờ là Tả quân Lê Văn Duyệt đã tiếp đãi tử tế và dành mọi sự dễ dàng trong việc mua bán.

Đến đời Tổng thống thứ bảy của Hoa Kỳ, là Andrew Jackson đã cử Đại sứ mang quốc thư đi các nước châu Á nằm ven biển để thực hiện các hiệp ước thương mại. Năm Minh Mạng thứ mười hai. Tổng thống Jackson dự định đặt một đại diện tại nước ta, nhưng vua Minh Mạng đã khéo léo từ chối.

Năm 1832, tàu Peacok chở phái đoán sứ giả Mỹ do ông Edmund Robert và Đại úy Georges Thompson dẫn đầu cập bến Đà Nẵng, xin trình quốc thư với lời thỉnh cầu được ký kết một hiệp ước thương mại (nhưng cũng chỉ là một bức thư lập sẵn để viên Đại sứ tùy tiện đệ trình với bất cứ nước nào khi ghé vào bờ) nên không được triều đình Minh Mạng tiếp nhận.

Nhà vua còn truyền cho các quan ở công quán phải tiếp đãi phái đoàn Mỹ tử tế và chỉ định cho họ chỗ đậu tàu là vịnh Sơn Trà ở Đà Nẵng. Sau đó Peacock nhổ neo rời Việt Nam đi Xiêm (Thái Lan).

Năm Bính Thân (1836), tàu Peacock trở lại nước ta một lần nữa, do một biến cố đã xảy ra với phái đoàn Mỹ, cuộc tiếp xúc đang có khả quan thì tàu Peacock phải vội vã đi Ma Cao cấp cứu.

Sau lần tàu nhổ neo ấy, cuộc tiếp xúc giữa nước ta và Hoa Kỳ bị lãng quên gần 4 thập niên, cái tên nước Malycan (Mỹ) đến đời này dường như không mấy ai nhắc tới.

Ta biết rằng, ngày trước quan hệ ngoại giao của nhà nước phong kiến nước ta chỉ quanh quẩn ở một số nước lân cận như Trung Hoa, Xiêm La, Vạn Tượng, Chiêm Thành, Lâm ấp, La Hộc, Thiên Trúc, Chà Và, Giang Lưu Ba.

Người âu tuy có quan hệ khá sớm nhưng chủ yếu qua việc họ đến nước ta để truyền đạo và buôn bán. Còn phái bộ nước ta chính thức đến các nước châu Âu có lẽ là Hoàng tử Cảnh, con chúa Nguyễn ánh, nhưng người cầm đầu phái bộ chúa Nguyễn lại là người Tây cố đạo Bá Đa Lộc (Pignau de Béhaine).

Sứ giả Việt Nam chỉ đóng vai người tháp tùng để làm con tin… Tên nước Mỹ lúc ấy các cụ phiên âm là Ma Lợi Căn hay Ma Ly Kiên.

Trong bộ Đại Nam thực lục, bộ chính sử quan trọng nhất là nhà Nguyễn, có chép khá kỹ về quan hệ ngoại giao, thương mại với các nước phương Tây từ Bồ Đào Nha, Hà Lan, Đức, Anh, Tây Ban Nha và tất nhiên rất nhiều với Pháp (Phú Lãng Sa). Không kể với các quốc gia lân bang “có tính truyền thống” như Trung Hoa, Nhật, Xiêm, Ai Lao, Cao Miên.

Riêng với nước Hoa Kỳ, một quốc gia trẻ đầy táo tợn và giàu mạnh thì phần vì quá xa xôi, phần vì bản thân nước Mỹ thời điểm đó còn đang chú trọng “tự cường” nên ở cái thời Bùi Viện “nào ai biết nước Mỹ là đâu”.

Trong bộ sử trên, chỉ thấy chép một đôi dòng. Năm 1819, có 2 thuyền buôn Hoa Kỳ do thuyền trưởng John White chỉ huy, ghé cảng Sài Gòn mua đường được quan Tổng trấn tiếp chu đáo. Sau đó, Quốc trưởng nước Nhã Di Lý (Hoa Kỳ) có gửi thư xin thông thương nhưng không có hồi âm gì.

Bùi Viện (1841-1878) người làng Trình Phố, quận Trực Định nay là xã An Ninh, huyện Tiền Hải, Thái Bình làm quan dưới triều Tự Đức, được coi là sứ giả Việt Nam đầu tiên hai lần đến Hoa Kỳ, được Tổng thống Hoa Kỳ bấy giờ là U.S. Grant tiếp kiến.

(Trong bài “Giọt nước mắt cụ Phan ở chân núi Phú Sĩ” trên TPCN 44, do sơ xuất của tác giả, viết Bùi Viện sang Mỹ gặp Tổng thống Washington là không chính xác, nhân đây chúng tôi xin đính chính lại).

Có thể hồ sơ tư liệu về sự kiện bang giao Việt – Mỹ “không tiền, khoáng hậu” cuối thế kỷ 19 này còn nằm khuất lấp trong thư viện Tổng thống Hoa Kỳ, nhưng sự kiện này còn lưu lại qua những vần thơ xướng họa của người đương thời giữa Bùi Viện và các bậc thức giả Nguyễn Tư Giản, Bùi Dị, Nguyễn Khuyến v.v.

Gần đây, nhiều nguồn tài liệu mới xác minh cho biết: Người Việt Nam đầu tiên đến Mỹ và ở lại Mỹ nhiều năm là ông Trần Trọng Khiêm (bí danh là Lê Kim) người làng Xuân Lũng (Xuân Lũng tên nôm là làng Dòng, huyện Sơn Vi, phủ Lâm Thao, nay thuộc huyện Phong Châu, tỉnh Phú Thọ).

 Ông Khiêm sinh năm Tân Tỵ (1821), nghĩa là ra đời trước Bùi Viện 20 năm, trong một gia đình nho học, thuộc một vùng quê có truyền thống học hành, yêu nước.

Quang Khải
Sưu tầm và tổng hợp

Video đang được xem nhiều

Cùng chuyên mục

Xem thêm Thế giới

Mới - Nóng

Khám phá