Đánh thức tình yêu di sản bằng nghệ thuật

TP - Trong cuộc vận động “giữ lại nhà thờ Bùi Chu”, một nhà nghiên cứu nói với tôi: giữ lại rồi thì thế nào, phải truyền thông, giáo dục cho chính nhân dân ở vùng di sản tình yêu với di sản. Muốn làm điều này phải có truyền hình vào cuộc. Ở những vùng quê nghèo, họ không đọc mạng, người ta chỉ xem truyền hình.

Múa lục cúng hoa đăng, một di sản của văn hóa Việt
Múa lục cúng hoa đăng, một di sản của văn hóa Việt

Trẻ hơn, tiệm cận hơn với đời sống

“Đại lộ di sản” là một chương trình mới của Đài THVN, đáp lại tiếng vọng “bảo vệ di sản” mà hàng trăm nhân sĩ trí thức đang chung tay trên chặng đường bảo vệ những giá trị nghệ thuật có niên đại hàng trăm năm trước nguy cơ biến mất.

Số đầu tiên ra mắt đúng vào dịp đại lễ Vesak, những người làm “Đại lộ di sản” tiết lộ sẽ đưa ra một cách tiếp cận mới về di sản, để thông qua đó góp phần bảo vệ di sản.

Bài toán mà ê kíp sản xuất phải giải trong kỳ này khá “xương”: vừa phải đáp ứng được yêu cầu giới thiệu “Việt Nam - Đất Phật ngàn năm”, vừa phải cài cắm một di sản phi vật thể đã được UNESCO công nhận, sao cho “không kém cạnh” khi so sánh với những di sản nghệ thuật của các nước hàng xóm như Ấn Độ, Bhutan, Nhật Bản, Trung Quốc v.v...

Tổng đạo diễn Phan Lạc Long tiết lộ: “Để làm mềm hóa chương trình, chúng tôi sẽ khai thác tối đa các yếu tố dân gian như truyền thuyết Phật sinh ra, Phật trong đời sống dân gian, Phật nhập thế... Yếu tố dân gian bao giờ cũng mềm mại, dễ nghe, dễ thưởng thức. Muốn người ta yêu di sản, trước hết phải để người ta tiếp cận với nó đã”.

Một trong những khó khăn của những người làm truyền thông về di sản là yếu tố: cũ kỹ, bác học... của nó sẽ rất khó tạo ra viral (sự lan truyền) lớn. Không nhiều người trẻ mặn mà với câu chuyện di sản. Những comment đề nghị “bỏ cũ xây mới” có thể gặp hàng ngày trong những tranh cãi về di sản. “Phần nhiều họ chỉ nhìn thấy giá trị đã được vật chất hóa của di sản mà ít khi chú ý đến giá trị văn hóa, nghệ thuật... của nó” (nhận xét của nhà nghiên cứu Nguyễn Thế Linh).

Đạo diễn Phan Lạc Long cho biết, đây là một trong những chương trình “rất khó” mà anh phải làm. Câu chuyện di sản vốn đã khó níu người xem, nếu không cẩn thận sẽ dễ gây mệt mỏi. Chưa kể âm nhạc Phật giáo cũng không dễ nghe ở một không gian mở (sân tam quan chùa Tam Chúc). Nhưng sau nhiều thử nghiệm, những người làm truyền hình đã chọn cách truyền thông qua những bài hát dân ca, hát ru, đồng dao, để tạo hiệu quả dễ nghe và dễ ngấm.

“Trong quá trình xây dựng chương trình, chúng tôi hay nói với nhau, phải làm sao  “đánh thức di sản”. Có vẻ âm nhạc là con đường tiếp cận tương đối nhẹ nhàng. Làm cho hay hơn, dễ nghe hơn, bằng các bản phối, bằng sân khấu, phối hợp với các đạo diễn trẻ, như Việt Tú, Ly Ly, dung hòa với nhau, để cho chương trình về di sản nhưng trở thành một tác phẩm nghệ thuật. Và nó thực sự có đẳng cấp nghệ thuật. Tôi tin người trẻ sẽ chấp nhận được. Tất nhiên, không thể đánh đồng tất cả mọi thứ của chương trình đều thành thứ nhạc trẻ co giật lên. Nhưng mà nói như thế cũng có nghĩa coi thường thưởng thức của người trẻ. Họ vẫn có thể nghe cồng chiêng, nghe hát Xoan, quan họ... miễn là chương trình xứng đáng”. Anh Long nói thêm.

Không chỉ trẻ hóa, còn nâng tầm

Để chạy đường dài trên con đường bảo vệ di sản, “Đại lộ di sản” ngoài đầu tư những chương trình nghệ thuật hoành tráng, còn chọn cách “mưa dầm thấm lâu”. Hàng ngày, đều có những chương trình ngắn giới thiệu những di sản văn hóa, nghệ thuật, kiến trúc... của Việt Nam trên truyền hình. Và để thu hút người xem, đặc biệt đối tượng khán giả trẻ, ê kíp dựng phim đầu tư rất kỹ vào từng khuôn hình. “Mỗi một thước phim đều phải trau chuốt. Thậm chí chúng tôi phối hợp anh em cả nước để có hình ảnh đẹp. Nhiều bạn trẻ chỉ chú ý đến cái gì đó vì: “oa, nó đẹp”!  Chúng tôi tập trung làm đẹp mỗi khuôn hình để người xem trước hết là để mắt, sau sẽ thấm dần”. Đạo diễn Phan Lạc Long kỳ vọng.

Một mẹo nữa để hút người xem di sản, đó là hiệu ứng ngôi sao. Rất nhiều người ngạc nhiên khi VTV chọn “ông hoàng nhạc sến” Ngọc Sơn hát trong đêm “Đại lộ di sản” đầu tiên. Nhà báo Diễm Quỳnh tiết lộ: “giám đốc âm nhạc Trần Thanh Phương là người rất giỏi trong việc biến những thứ không liên quan thành liên quan. Ngọc Sơn là một bất ngờ của chúng tôi trong chương trình này”.

Theo chia sẻ của ê kip sản xuất, tất cả các loại hình di sản của Việt Nam sẽ lần lượt được giới thiệu, kể cả vật thể và phi vật thể. Anh Long cho biết: “Ví dụ chúng tôi dùng bối cảnh Tràng An để làm phim thì cũng là cách giới thiệu di sản này lên sóng. Mà như thế lại dễ xem. Không chỉ trẻ hóa các chương trình, mà phải nâng tầm nó, mới có hy vọng tạo được dấu ấn trong lòng khán giả”.

Đánh thức tình yêu di sản bằng nghệ thuật - ảnh 1 Nhà báo Diễm Quỳnh và đạo diễn Phan Lạc Long mong muốn nghệ thuật hóa các chương trình về di sản để tiếp cận nhiều công chúng hơn

Nhà báo Diễm Quỳnh kể: “Trước khi làm “Đại lộ di sản”, chúng tôi đã trao đổi hàng ngày với đạo diễn Việt Tú, NSƯT Trần Ly Ly, đạo diễn âm nhạc Thanh Phương, mọi người đều mong muốn có một cách nào đó bằng nghệ thuật: nhìn, nghe, bằng âm thanh, ánh sáng, bằng hình ảnh... để tiếp cận nhanh và có cảm xúc nhất với những gì mà chúng ta nghĩ rằng nó quá xưa cũ. Ví dụ như nhã nhạc cung đình Huế mà chúng tôi chọn giới thiệu trong “Đại lộ di sản”. Làm thế nào để chúng ta xem được nó, ngoài cách vào Huế, nhưng lần này khán giả có thể xem trên truyền hình vô cùng lộng lẫy. Tôi tin nhã nhạc Việt Nam hoàn toàn tự hào khi đứng cùng các tiết mục nổi tiếng thế giới khác như: múa Cham của Bhutan, múa Saman của Indonesia, múa Awa Odori của Nhật Bản hay múa Odissi của Ấn Độ”...

Chương trình “Đại lộ di sản” đầu tiên sẽ được Đài Truyền hình Việt Nam tổ chức vào 20h10 ngày 12 tháng 5 năm 2019, truyền hình trực tiếp trên sóng VTV1 từ khu du lịch tâm linh Tam Chúc - Hà Nam, đúng vào đợt diễn ra Đại lễ Vesak LHQ 2019.

Các di sản được giới thiệu: Múa “Lục cúng hoa đăng” - điệu múa quan trọng nằm trong hệ thống các vũ khúc Cung đình triều Nguyễn (được UNESCO công nhận là Kiệt tác truyền khẩu và phi vật thể của nhân loại vào năm 2003); Múa Odissi của Ấn Độ (một trong bảy điệu múa cổ điển của Ấn Độ); Múa Awa Odori Nhật Bản (được cho là bắt nguồn từ năm 1586, thể hiện tinh thần của đất nước võ sĩ đạo theo nhịp điệu của samisen, trống, chuông và sáo); Múa Cham của Bhutan (một điệu nhảy truyền thống thường được biểu diễn trong những lễ hội lớn nhất tại Bhutan và có ý nghĩa mang lại sự thanh tịnh cho tâm hồn, cũng như lời chúc phúc đến với những người thưởng thức điệu múa này)…

Cùng chuyên mục

Xem thêm Văn hóa

Mới - Nóng

Khám phá