Sự kiện: Miên man tùy bút

Miên man tùy bút (Phần tiếp theo)

TP - Cách mạng tháng Tám bùng nổ, hai anh em Linh Chi theo gia đình về sống ở quê, thôn Nội Doi, ấp Ngư Đại. Đây là lúc ở lại quê nhà lâu nhất trong đời, và cũng nhờ vậy mà anh có dịp đến nơi này nơi khác để vẽ.

Cô Mạc Min - Ký họa - Giấy của Linh Chi

Kỳ 1 - Kỳ nghiêm hồ (tiếp theo)

Anh hiểu thêm rất nhiều cuộc sống nông thôn sau đại chiến thế giới thứ hai. Nạn đói đã qua khỏi nhưng dấu tích của nó vẫn đang còn đó, đâu đâu cũng rách rưới lam lũ, đâu đâu cũng ngắc ngoải thê lương như vừa qua một cơn bão lớn.

Cha anh, ông phán Tấn lao vào những công tác xã hội ở địa phương, ông đi biền biệt từ sáng đến tối. Bà mẹ anh cũng chạy khắp làng vận động bà con nhà nhà làm hũ gạo cứu đói. Chỉ có chú em là ngồi nguyên ở góc buồng ghi chép suốt ngày.

Linh Chi vác giá vẽ ra đồng, vẽ con sông cạn bò ngoằn ngoèo đến chân núi Dạm, ra bờ sông Cầu vẽ những cánh buồm no gió từ mạn Phả Lại đang đẩy thuyền củi, thuyền than chạy lên bến Đáp Cầu.

Anh vẽ những anh những cô du kích cầm mã tấu đứng gác ở cổng làng, vẽ những đứa trẻ cầu bơ cầu bất mót khoai mót sắn. Người họa sĩ trẻ được thức tỉnh tinh thần trách nhiệm trước đồng bào mình bởi thực tiễn nhiều cay đắng đang hiện ra quanh mình.

Anh bắt đầu nghĩ ngợi đến số phận dân tộc, tự cắt nghĩa lấy những nguyên do nào đã xô đẩy dân mình vào cảnh lầm than, từ trong tiếng súng ở những mặt trận xa vọng về anh nghe rạo rực có tiếng hô xung phong của bạn bè, họ đang cầm súng lao lên trong tư thế những người chiến sĩ dám ngã xuống để bảo vệ nền độc lập tự do còn rất non trẻ, bảo vệ chính thể cộng hòa có nguy cơ bị ngoại xâm bóp chết.

Đầu 1947, hai anh em lại một lần nữa xa gia đình, họ cùng nhau tìm lên chiến khu Việt Bắc - Trọng Hứa vào quân đội, trung đoàn 36, sư 308, còn Linh Chi gia nhập lực lượng văn hóa cứu quốc, ít lâu sau cả hai đều trở thành hội viên Hội Văn nghệ kháng chiến.

Trọng Hứa viết truyện ngắn "Thằng bần" được in trong tạp chí "Văn nghệ", anh mô tả một anh nông dân nghèo khổ từ tăm tối lần đường đến với cách mạng. Tố Hữu khen có cách nhìn giai cấp, Tô Hoài, Nguyễn Huy Tưởng bảo tay này thế mà khá.

Linh Chi xông pha khắp mấy tỉnh trong Liên khu, anh tạm gác sơn dầu, chuyển sang bột mầu thuốc nước bút sắt chì than, cho gọn nhẹ. Tháng Tư năm 1950, anh dừng chân bày tranh tại Chiêm Hóa, Tuyên Quang nhân hội nghị thi đua của Trung ương Đoàn thanh niên cứu quốc và Trung ương Hội Phụ nữ cứu quốc vừa khai mạc.

Một phòng tranh đơn sơ, những tờ ký họa và bột mầu thuốc nước được dán vội vàng lên vách liếp vậy mà đẹp, có sức cuốn hút mọi người. Bác Hồ dẫn một vị khách quý người Pháp là Léo Figuère đến xem tranh và ngợi khen.

Léo Figuère, đại biểu Đảng Cộng sản Pháp mang theo mấy bức của Linh Chi về  nước rồi đưa lên in kín cả một trang tờ báo Humanité,  cơ quan ngôn luận của Đảng.

Trong đó có bức in thạch bản "Phố Hàng Nón cháy" là thành tựu đáng chú ý của hội họa kháng chiến. Một sự thật của Việt Nam kháng chiến đã tràn vào phòng tranh Linh Chi, chắp cánh cho tranh anh bay đến những chân trời rộng rãi.

Khóa hội họa kháng chiến mang tên Tô Ngọc Vân mở trong hai năm 1952 - 1953 do chính Tô Ngọc Vân phụ trách, Linh Chi cũng như nhiều anh em khác được gọi về học tập, tại đó anh có điều kiện chuẩn bị lại cho bản thân một cách hệ thống hành trang tri thức rất cơ bản để có thể đi tiếp trên con đường dài nghệ thuật.

Thế là ao ước được vào trường thì rồi cũng đã đến lúc được vào. Trường đặt ở trên rừng cọ, mái nhà lá cọ, ăn cơm với trái cọ, muối bằng nước mắm cua đồng, chan canh rau dền luộc nước suối, công tử Linh Chi thấy Hà Nội dáng kiều thơm đã rất xa xôi, những buổi chiều hai anh em quanh quẩn trong căn nhà vắng ở tỉnh lỵ Vĩnh Yên có tiếng còi tàu buồn bã hệt như trang văn Thạch Lam "Hai buổi chiều vàng" nay cũng đã thành rất xa xôi.

Xa xôi những tà áo dài tha thướt, xa xôi vẻ đẹp đài các của những phòng tranh đài các, Linh Chi đã nhập cuộc, lặn lội vào cuộc sống chung nhiều gian khổ của nhân dân và dần dần hóa thân thành một họa sĩ có nội lực, có cốt cách vững chãi. Đấy là một giá trị mà anh đã đi tìm suốt cuộc kháng chiến.

Hết khóa học đó, anh được cử về Nhà in Quốc gia công tác. Sau này bộ phận của anh được gọi là Xunhasaba. Vừa bận bịu làm việc ở cơ quan, vừa lo toan củng cố chuyện gia đình, Linh Chi vẫn vẽ nhiều và vẽ đẹp.

Đối với các họa sĩ, mỗi lần bày tranh cá nhân là một lần báo cáo rộng rãi những sáng tạo của họ trước công chúng, và đó cũng là một cái mốc đánh dấu những bước đi của họ.

Sau lần bày tranh ở Chiêm Hóa, trở về Hà Nội anh còn có thêm hai lần bày tranh cá nhân nữa, lần nào cũng có tiếng vang. Năm 1971, tại số 10 Hàng Đào do Hội Mỹ thuật Việt Nam bảo trợ. Năm 1989, tại 19 Hàng Buồm do Hội Văn nghệ Hà Nội bảo trợ.

Trong cuộc đời hội họa đầy nghị lực, hết sức âm thầm của mình, Linh Chi đã đạt được những thành tựu đáng tự hào. Tranh của anh hiện đang được lưu giữ ở Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam, Bảo tàng Mỹ thuật Phương Đông Mạc Tư Khoa, Bảo tàng Á Phi Vácsava, Bảo tàng Á Phi Thụy Sĩ.

Rất nhiều tác phẩm của anh đã được công chúng trong và ngoài nước đón nhận, giờ đây nhiều cái đang nằm trên những bức tường nhà ai đó trong lòng Hà Nội, nhiều cái đã ở đâu đó, xa.

Tôi có hai lần tới thăm gia đình anh Linh Chi rất khó quên. Lần thứ nhất là ở thời Hà Nội đang ngày đêm bồn chồn trong chiến tranh phá hoại. Ngôi nhà 114 phố Tuệ Tĩnh, một lối đi hẹp dẫn vào sân trong, qua một bụi tre ngà, men theo cái cầu thang gạch, hẹp và dốc dẫn lên gác.

Gia đình anh sống trên căn gác đó, gian ngoài dành riêng cho anh Trọng Hứa, gian trong là của vợ chồng anh và hai cháu nhỏ, đứa đầu lòng là cháu gái, đứa sau là cháu trai.

Đêm tháng Chạp lạnh, khu phố anh mất điện. Anh Trọng Hứa đang ngồi lọt thỏm trong ghế phôtơi, một chiếc chăn đơn cũ mềm choàng lên mảnh vai gày guộc, trong tay anh đang là một cuốn tiểu thuyết tiếng Pháp của một nữ văn sĩ thời thượng của châu Âu lúc đó, cuốn "Rừng xào xạc".

Một cây nến rõ lớn không biết kiếm từ đâu đang cháy phừng phừng trên mặt bàn nhỏ và thấp ngang vai anh. Hai anh cùng đứng dậy bắt tay tôi, tay anh Linh Chi mềm mại ấm áp, còn tay anh Trọng Hứa thì vừa khô lại vừa lạnh.

Bằng một giọng nhỏ nhẹ, lúc nào như cũng có một nụ cười trong câu nói anh Linh Chi bảo, hôm nay ngoài trời lạnh, hay là ta nhóm lửa cho ấm. Anh Trọng Hứa hưởng ứng liền, hay quá, có Đỗ Chu đến chơi, phải nhóm lò sưởi là đúng rồi. 

Góc phòng có một cái lò sưởi cũ kỹ, mấy thanh củi đã được chất sẵn trong đó từ lâu, như là để chờ khách vậy. Chỉ một lát sau lửa đã tỏa sáng cả căn phòng đẹp nhưng buồn và cô quạnh.

Chúng tôi ngồi quanh bếp lửa hồng. Anh Trọng Hứa hỏi tôi, chú có quan hệ họ hàng gì với Đỗ Tốn không, tôi lắc đầu, Đỗ Tốn viết Hoa Vông Vang, văn đẹp lắm nhưng là người trên Phúc Yên thì phải, em ở bên Bắc Giang, mà Đỗ chỉ là họ mẹ, em vốn họ Chu.

Anh Linh Chi lại nhỏ nhẹ, chúng mình đọc truyện ngắn của Chu thích lắm, tưởng Chu họ Đỗ thì nghĩ thế, hóa ra không phải. Rồi cả ba lại ngồi im lặng nhìn lửa.

Bất chợt có tiếng lũ trẻ reo hò ngoài phố, tiếng mấy nhà hàng xóm xôn xao, anh Linh Chi vội nhỏm dậy, bật điện, bật điện mau. Quả nhiên là có điện. Anh Linh Chi mừng ríu cả chân tay, mời Chu sang bên mình một lát sau lại về bên này với Hứa.

Giữa căn buồng rộng gấp đôi buồng anh Trọng Hứa đặt một chiếc bàn sơn mài đen bóng, tách chén trắng ngà sạch sẽ. Hai chiếc ghế mây lớn, một dành cho chủ, một dành cho khách.

Sau lưng anh Linh Chi là giá vẽ với một bức sơn dầu còn dở dang, một mảng vàng chanh phủ rộng khắp mặt toan, lấm chấm trắng, lấm chấm lá non.

Anh Linh Chi thấy tôi nghển lên nhìn hơi lâu vào bức tranh thì giải thích, mình hàng ngày vẫn lang thang ở công viên bên kia đường.

Bên ấy dạo này đang có một cái công trường, họ đóng ca nô hay tàu thuyền gì đó trên bờ hồ, ngổn ngang búa máy, cưa máy rồi cần cẩu, sắt thép chất từng đống.

Mình sẽ vẽ để ghi lại những ngày này. Nhân tối nay Chu lại thăm bọn mình, sẵn có chì than và giấy, mình muốn ký họa một vài nét, sẽ có ngày làm một cái chân dung Chu.

Anh Linh Chi trải một tờ giấy trắng khổ lớn xuống sàn, ngồi xổm, hòn chì than mềm mại kéo lên kéo xuống mươi lần, vậy là xong. Anh đưa bức ký họa tôi ra trước mặt tôi, rồi anh cười, Chu thấy thế nào?

Dạ đẹp, đẹp hơn em ở ngoài. Không, đúng là Chu rồi đấy. Tôi vẫn có ý đợi, đợi mãi, chỉ lo anh ấy đã vứt mất cái ký họa đó đâu rồi và tôi không bao giờ dám nhắc lại chuyện này.

Đầu năm ngoái tôi và anh Văn Đa cùng cô Nhu nhà tôi đã tìm lên Tứ Liên để thăm vợ chồng anh Linh Chi.

Bây giờ anh không ở dưới phố nữa, căn gác cũ nay dành cho vợ chồng đứa con gái, anh chị mua đất trên Tứ Liên, xây nhà sống với vợ chồng đứa con trai, các cháu đều đã trưởng thành, biết đi làm kiếm miếng ăn không phiền bố mẹ già, thật là mừng.

Chúng tôi ngồi nói chuyện uống trà quanh một bộ sa lông tre quý phái. Rồi anh đứng dậy đi vào buồng trong lát sau quay ra, trong tay là một cuộn giấy khổ rộng.

Cho Đa và Đỗ Chu xem cái này, anh từ từ mở nó ra, đó là bức ký họa chì than tuyệt vời, một thiếu nữ thân hình kiều diễm, tóc xòa gần hết mặt, hai bầu vú gợi cảm, mảnh vai tròn, tấm lưng cuộn như một con tôm và hai cánh tay trần thả xuống hờ hững.

Thiếu nữ khỏa thân của Hà Nội những năm hai nghìn do một họa sĩ tuổi Canh Thân, ngoài tám mươi vừa vẽ.

Vợ chồng tôi và anh Văn Đa đã ở lại ăn bữa cơm gia đình cùng anh chị. Lúc tiễn chân chúng tôi trong ngõ nhỏ anh Linh Chi thì thầm như một bí mật, mình đã đưa Hứa về cánh đồng trên này rồi, lần sau lên chơi chúng ta sẽ ra đó thăm Hứa, Hứa nằm trên một cái gò, nhìn ra sông, còn sống chú ấy là người thích ngồi ngắm sông.

Mười năm trước đứa con trai tôi ra ở riêng, vợ chồng nó ôm con dọn xuống một căn hộ mãi dưới đầu làng Cót gần ngã tư Cầu Giấy. Một hôm nó bảo, phố con ở là phố Hoa Bằng có lẽ ông này là một ông tướng thời Lê thời Lý thì phải.

Tôi không biết nên nói với cháu ra sao. Đúng là Hà Nội bây giờ mở ra rất nhiều đường phố mới, tên gọi cũng mới, nhiều phố mang những tên người đố ai hiểu, ngay người sống ở đấy cũng chịu cứng.

Nhưng cụ Hoa Bằng thì may mắn làm sao tôi lại có biết ít nhiều, năm tôi mới ngoài hai chục tuổi, đã có lần được ông cụ cho đi theo một buổi chiều, đối với tôi đó là kỷ niệm lớn.

Một ngày mùa hạ nắng to, từ nhà anh Linh Chi ra tôi cứ men hè phố Huế mà đi cắm cúi. Đến ngã tư đường Trần Hưng Đạo thì gặp anh Bàng Sĩ Nguyên đang ngồi trong quán nước trà dưới bóng một cây sấu.

Anh Nguyên hỏi, cầm cái gì trên tay thế? Tôi cười, một bức tranh anh Linh Chi vừa cho. Một bức sơn dầu bằng cái quạt nan, vẽ trên một miếng cát tông mỏng, màu sắc tối sầm, bầu trời tối, con đường, hàng cây đều tối, ngôi nhà với khoảnh tường đầu hồi cũng chỉ hiện ra lờ mờ sau vòm lá, những dòng nước lấp loáng chảy trên mặt đường, và những thân cây.

Anh Nguyên hô lên, tuyệt, đẹp lắm, gọi nó là bức "cơn mưa". Linh Chi là một người tinh tế, nhìn tranh nhận ra ngay. Tôi nói, anh ấy vẽ thị xã Lạng Sơn đấy. Ừ, đúng là xứ Lạng thật.

Rồi anh Nguyên bảo tôi, chú ngồi lại đây một lát, tôi sẽ cho chú được tiếp kiến một nhân vật lớn. Một nhà lãnh đạo chăng? Không, một nhà nho còn sót lại, một nhà văn hóa, đó là cụ Hoa Bằng - Ông cụ sẽ tới đây? Tôi hỏi lại như không dám tin là thật.

Anh Nguyên kể, ông cụ trưa nào ăn cơm nắm xong cũng ra đây uống ly nước trà và hút thuốc lào ngắm phố.

Ông cụ không có biên chế chính thức ở Viện Văn học, chỉ là một cộng tác viên dịch cổ văn thuê, lúc nào đó chú phải xin cụ nói cho mà nghe về Cố Bình Lâm và Lâm Ngữ Đường, ở Trung Quốc hai người này chỉ đứng sau có Lỗ Tấn, mà có khi cũng chẳng phải là đã đứng sau bao nhiêu, ngoài mấy người này văn học hiện đại của bên ấy là rất phập phù. Kia rồi, ông cụ đang đến kia rồi.

Tôi và anh Bàng Sĩ Nguyên đều đứng cả dậy sửa sang quần áo. Một ông già chừng ngoài sáu chục tuổi, áo vải mông mốc trắng, quần trúc bâu trắng, chân mang giầy vải Thượng Đình, dáng người tầm thước, râu thưa, mắt sáng, da mặt hơi tai tái, tóc muối tiêu, râu muối tiêu.

Chúng tôi kính chào. Anh Bàng Sĩ Nguyên giới thiệu tôi, ông cụ gật đầu nói trầm trầm "Hoa niên sơ khai phóng, thiếu niên hà như trân trọng dã"! Tôi cảm ơn cụ. Ý câu ấy là, tuổi thơ khác gì hoa mới nở, cớ sao lại không trân trọng vậy.

Hỏi cụ có phải là người cùng một xấp với các cụ Trần Lê Nhân hay cụ Sán cụ Kỷ không, cụ nhè nhẹ xua tay, "tôi thấp hơn các cụ, ở bề dưới các cụ". Rồi cụ móc túi lấy một hộp thuốc lào dẹt như cái trứng nhện, rút chiếc điếu cày riêng đựng trong một cái túi vải.

Hút xong điếu thuốc cụ hỏi tôi, anh có đi về hướng Láng không, ta cùng đi với  nhau một đoạn. Thưa cụ cháu cũng đang định ngồi một lát với anh Nguyên rồi sẽ cuốc bộ về dưới ấy. Cụ nói, vậy uống chén nước xong ta đi.

Tôi để anh Bàng Sĩ Nguyên ngồi lại đó một mình rồi vội vàng bám theo ông cụ. Tôi vẫn không quên cầm trong tay bức tranh "cơn mưa" của anh Linh Chi.

Hai ông con đi vòng vo mấy dãy phố, qua đường Khâm Thiên xuống đường Hào Nam. Chúng tôi lội qua những cánh đồng rau, những ruộng hoa cúc, những trận địa pháo, xa xa đã thấy có lùm muỗm cổ thụ của chùa Láng.

Đi được một đoạn ông già lại đứng chống tay vào nạnh sườn, đăm đăm nhìn về phía trước. Ông nói với tôi, ngày tôi còn nhỏ ven sông Tô cả hai bờ đều um tùm cây lá, mơ mận mọc nhiều lắm, xuân về hoa trắng bát ngát, lại nhớ đến câu thơ Đường "Yên hoa tam nguyệt há Dương Châu".

Nhót cũng nhiều vô kể, sắp sang hè nhót chín đỏ dậy một vùng, chả ai trồng đâu, chúng cứ tự mọc cả đấy. Có những con chim bạc má xòe đuôi nhảy nhót, chăm chỉ bới lá tìm những chú sâu có sừng trên đầu.

Bây giờ nhà cửa mọc lên đã muốn nhiều, nhưng cây cỏ lại ít, nếu nay mai định hoạch thành phố mà quên vườn tược thì không biết sẽ ăn ở với nhau ra sao, liệu có còn muốn thở nữa hay thôi.

Lúc chúng tôi sắp bước vào một cái cổng gạch thì nghe có ai gọi tên cụ. Một người đàn ông đang hớt hải chạy ở phía sau, người ấy chừng đã bốn chục tuổi.

Ông cụ cười, chúng tôi đang tìm lối vào anh. Cháu cũng đoán vậy nên thoáng thấy bóng cụ là cháu vội về, ông cháu mất đã ba tháng rồi, hôm ấy cháu không kịp cho người xuống báo tin với cụ, thật có lỗi. Cũng là do thời chiến, anh yên tâm đi, tôi hiểu.

Người ấy dẫn hai ông con chúng tôi về nhà mình. Bước vào nhà, ông Hoa Bằng thắp ba nén hương khấn vong linh người bạn đã quá cố, khom lưng bái biệt trước bàn thờ khói nhang thơm lừng. Xong xuôi ông cụ cứ đứng đó, ngẩng nhìn bức hoành phi treo trên cao.

Người ấy thưa, lúc ông cháu còn sống thì cháu lại quên không hỏi xem ba chữ ấy là chữ gì, mấy người hàng xóm đến chơi đọc lõm bõm rồi đều lắc đầu, quái lạ, chữ nào cũng đọc được mà vẫn chẳng hiểu nổi nghĩa lý là ra thế nào.

Hôm nay cụ qua chơi, xin phép cho cháu mang giấy bút ra rồi cụ giảng giải để cháu ghi lại.

Ông cụ vội xua tay, đơn giản thôi, nói ra là hiểu liền ấy mà, ghi làm gì cho mệt. Tôi thấy các anh bây giờ ghi nhiều mà ít chịu nhớ. Ba chữ này của nhà anh đọc là, "Kỳ nghiêm hồ", đáng sợ lắm thay, đáng ngại lắm thay.

Thế nếu muốn hiểu sợ cái gì, ngại cái gì thì lại phải nhớ đầy đủ một câu trong sách Đại học của thầy Tăng Tử, "thập mục sở thị, thập thủ sở chỉ, kỳ nghiêm hồ".

Mười mắt nhìn vào, mười tay chỉ vào, đáng ngại lắm đấy. Tôi đang thấy mấy chữ này ai viết mà rất đẹp, vừa nghiêm lại vừa tươi. Giá nhà nhà từ thứ dân đến cán bộ cao cấp của ta đâu cũng để mấy chữ này thì xã hội sẽ nề nếp ngay ngắn hơn nhiều.

Các cụ chọn mấy chữ này là muốn dặn dò con cháu lâu dài, phải ngày ngày cố gắng tu thân, phải nhớ sống ở đời cần biết giữ gìn phẩm hạnh. Phải biết sợ dư luận, phải biết xấu hổ, biết nể trọng xung quanh.

Làm người cái cốt yếu là cần tự trọng, thiên hạ người ta luôn nhìn luôn chỉ vào mình, ngại lắm. Đến quả bầu quả mướp bị người ta chỉ chỏ bàn tán còn thui chột rơi rụng huống chi là con người.

Với người cả đời quanh quẩn trong xóm ấp thì thiên hạ chỉ to bằng cái nón, nhưng với những ông nọ bà kia thì thiên hạ đã to bằng cái đình, mà với các bậc vua chúa đế vương thì thiên hạ là cả thế gian, lúc ấy không phải chỉ có mười mắt mười tay chỉ vào nhìn vào nữa.

Cho nên các anh các chị bây giờ muốn sống thế nào là tùy, riêng tôi lúc nào cũng nhớ "Kỳ nghiêm hồ". Hoặc cũng có thể viết là "Chỉ thị kỳ nghiêm" vậy.

Không phải chỉ vị chủ nhà hôm ấy nhận được một bài học quý mà cả tôi cũng đã nhận được một bài học quý. Khi ra khỏi xóm đó tôi xin phép cụ Hoa Bằng cho được rẽ về Láng.

Tôi tìm đến nhà một người bạn gái, tặng nàng bức tranh mà anh Linh Chi vừa cho. Là vì hồi đó tôi đang ở cảnh tứ cố vô thân, vợ con chưa có cửa nhà thì không, dẫu có quý bức Lạng Sơn ngày mưa của anh đến mấy thì cũng chả còn biết treo nó ở chỗ nào.

Mà bây giờ cũng chả còn biết là nó đang lưu lạc nơi nao, không chừng người ta đã mang tác phẩm của anh làm rế lót nồi mất rồi.

Năm tháng qua mau quá, nay ngồi nhớ lại để viết những dòng này tôi bỗng nhìn ra cách sống của anh Linh Chi, cách vẽ của anh Linh Chi, một người hoàn toàn hướng về tây học vậy mà vẫn rất "Kỳ nghiêm hồ". Anh là người bao giờ cũng giữ gìn, khiêm cung và nhân ái.

Vài hôm trước tôi vừa gặp trên phố một ông già dáng lịch lãm, mang kính cận, mái tóc bạc như cước. Ông đi trên phố bước thấp bước cao, cắp bên sườn một khung kính trong có lồng bức tranh lụa vẽ thiếu nữ áo dài màu nghệ.

Tôi vội rảo bước để nhìn theo hút bức tranh. Nom quen quá, như đã thấy ở đâu một lần. Có người hỏi ở phía sau, Chu phải không, nom dạo này già quá, suýt nữa thì không nhận ra nhau.

Tôi nhận ra anh ngay, đấy là một họa sĩ của NXB Thanh Niên giờ chắc là đã nghỉ hưu. Anh dặn tôi chiều có rỗi thì tới Trung tâm văn hóa Hàn Quốc đầu đường Nguyễn Du xem một ít tranh của vài họa sĩ quen thuộc.

Tôi chỉ vào bức lụa đằng trước mà hỏi, có cả bức kia chăng? Bạn tôi gật đầu, lần này Linh Chi có hai bức, bức chân dung ca sĩ Thanh Lam kiều diễm hiện giờ sống ở Mỹ, áo phớt hồng thoáng màu vàng nghệ, và bức ký họa cô gái Cao Bằng.

Là của ông già kia cả, đó là một nhà sưu tập tranh kín tiếng, ông ấy được các bạn Hàn Quốc mời mang tranh của nhà mình ra bày ở Nhà thông tin mươi ngày cho vui.

Tôi theo họ đến luôn Trung tâm văn hóa Hàn Quốc. Trên tường đã thấy có tranh của Nguyễn Sáng, Bùi Xuân Phái, Đỗ Đình Hiệp, Lê Công Thành… Ở một góc là bức của Linh Chi vẽ thiếu nữ Tày, khuôn mặt nhìn nghiêng trái xoan thuần nhã, con mắt xa xôi như mắt nai tơ, đầu choàng khăn tím tràm, áo dài tím tràm.

Ông nào cũng vẽ con gái, con gái thời nào cũng thế, họ luôn luôn đẹp trước các họa sĩ, trước mỗi chúng ta, toàn thế giới. Ông già sưu tầm tranh bắt tay tôi rồi chỉ vào hai người đàn ông đang hì hụi treo tranh gần đó, một người là con trai cả của ông còn một người trẻ măng là cháu nội của ông.

Hai bố con đang làm ăn trên Việt Trì, nghe tin ông muốn bày tranh thì kéo nhau về để đỡ đần một chân một tay. Hai bố con nhà ấy đang vần một cái trục gỗ quét sơn trắng tinh vào phòng để đặt lên đó một bức tượng gồm ba thớt đá cẩm thạch.

Tôi cũng chưa nhìn ra đó là tượng người hay núi non, chỉ biết là một khối đẹp, càng nhìn càng thấy đẹp.

Hà Nội tháng 2 năm 2007

(Còn nữa)

Nhà văn Đỗ Chu

Cùng chuyên mục

Xem thêm Văn hóa

Cùng chủ đề

Mới - Nóng