10 ngày với nhà thơ Tày Triều Ân

TP - Nhờ chuyến đi giao lưu và thăm Trung Quốc do Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức tháng 5/2005, tôi có 10 ngày gần gũi nhà thơ người dân tộc Tày tài năng, hiền từ và tốt bụng này. Và tôi thực sự yêu mến và thân thiết anh từ đó…

Nhà thơ Triều Ân (giữa)

Trước đây tôi chỉ đọc sách báo, biết Triều Ân là nhà thơ người Tày ở Cao Bằng, địa đầu Tổ quốc.

Biết anh làm thơ, viết truyện ngắn rồi nghiên cứu văn hóa lễ hội Tày, làm từ điển chữ nôm Tày, vào Hội Nhà văn Việt Nam từ hồi tôi mới học cấp 2 trường làng, nhưng chưa bao giờ được trò chuyện hay quen biết anh.

Triều Ân năm 2005 đã 75 tuổi mụ, đầu tóc bạc phơ, tính tình điềm đạm, rất ít nói, ngược với một người khác, ăn cũng hăng mà nói cũng hăng, nói suốt ngày, hết mắng người này lại phê bình người khác, bình cả thơ Đường cho nhà văn Trung Quốc nghe.

Sau 3 giờ bay, từ sân bay Nội Bài, đoàn chúng tôi đến Bắc Kinh. Đoàn được bố trí ở tầng 8, một khách sạn 4 sao cao 30 tầng. Vừa bước chân đến khách sạn, Triều Ân đã dịch cái bảng tên khách sạn cho tôi biết :” Đây là Khách sạn Lục Hợp Hưng, số 4, đường  Công Thể Đông, khu Triều Dương, Bắc Kinh”.

Ba năm học cấp 3 tôi học tiếng Trung Quốc, nhưng  bây giờ chỉ nhớ bập bẹ được những câu chào đơn giản như “nỉ hảo” (chào), “Ủa sư Duê Nán rấn” (tôi là người Việt Nam), “can pây” (cạn chén), “nỉ sua sởn mơ?” (anh nói gì ?)… còn anh Triều Ân nói và viết tiếng Hán tương đối khá. Anh dịch và làm được thơ bằng chữ Hán.

Anh kể, ông nội anh là tri huyện Từ Sơn, Bắc Ninh, rất giỏi chữ Hán, ông bố cũng là một nhà Nho, nên Triều Ân được ông và bố dạy chữ Hán rất kỹ. Suốt ngày học và đọc Tam Tự Kinh và Kinh thi, đường thi.

Trong 3 năm (1953 - 1956) anh được Việt minh giới thiệu sang Nam Ninh, Trung Quốc học, nên anh biết nói thạo tiếng Trung Quốc.  Nhờ thạo chữ Hán, nên trước khi đi thăm Trung Quốc, anh đã chuẩn bị xong bản thảo cuốn “Văn học chữ Hán dân tộc Tày”. Cuốn sách này giới thiệu 47 tác giả người Tày làm thơ chữ Hán do Triều Ân sưu tầm, biên soạn, dịch nghĩa, dịch thơ, chú giải, ghi chú điển tích… (Công trình này được NXB Văn học ấn hành năm 2006).

Người ta bố trí chúng tôi một người một phòng (dù phòng ở có 2 giường rất sang trọng, theo nội dung ký kết giữa Hội Nhà văn hai nước), Triều Ân ở phòng 806, tôi ở 804.

Vừa mở cửa phòng, anh đã sang dịch cho tôi nghe bản “Chương trình hoạt động” bằng tiếng Anh mà Hội Nhà văn Trung Quốc gửi. Thì ra, Triều Ân còn đọc được tiếng Anh nữa.

Một nhà văn 15 tuổi đã tham gia Việt minh từ năm 1945, cho đến ngày về hưu (1993) không rời khỏi vùng núi cao Cao Bằng, mà tự học để dịch, viết và hiểu được hai ngoại ngữ thật đáng kính nể!

Anh rỉ rả bảo tôi: Ở trong chương trình có mấy ngày đi thành phố Thành Đô, tỉnh Tứ Xuyên, sẽ được thăm Lều cỏ Đỗ Phủ, thích quá. Mình mê Đỗ Phủ lắm. Nhưng đó là bản “chương trình” ban đầu, sau đó khi đến Tứ Xuyên, Hội Nhà văn Trung Quốc đã cắt chương trình thăm Lều cỏ Đỗ Phủ đi, nên Triều Ân tiếc quá, bèn làm “vọng” một bài thơ “Viết ở Đỗ Phủ thảo đường”, coi như mình đã đến thăm Lều cỏ của đại thi hào: Mười bốn thế kỷ lều vẫn cỏ / Muốn như người cũ quen đường về...

Trong bài  thơ Triều Ân còn nhắc đến bài  “Mao ốc vi phong sở phá ca” (Bài ca gió thu tốc mái nhà) của Đỗ Phủ: ước mơ xưa có nhà muôn gian để  che cho những người hàn sĩ bốn phương, nếu có ngôi nhà đó, thì lều cỏ ta dù đổ, ta bị chết cóng cũng cam lòng.

Đến Tứ Xuyên, Triều Ân còn tiếc là không được đến thăm những di tích liên quan đến văn học như Thành Bạch Đế, quê Tư Mã Tương Như giỏi đàn, nơi Lý Bạch đã làm bài thơ Tảo phát Bạch Đế Thành (từ thành Bạch đế đi sớm)…

Nên đêm ở Thành Đô, Triều Ân vẫn nhớ Lý Bạch: Kìa thành Bạch đế xa trông / Hơn ngàn năm đó mây hồng còn nguyên… Những cảm hứng chiều sâu tri thức này chứng tỏ Triều Ân rất hiểu biết văn hoá Trung Hoa, yêu mến và thuộc nhiều thơ Đường.

Ở khách sạn Lục Hợp Hưng, Bắc Kinh, có lần, Triều Ân chạy sang phòng tôi bảo: ”Ngô Minh có biết trong toilet thứ nào là dầu gội đầu không?”. Thực tình trong phòng tắm thơm tho tiện nghi ấy có hàng chục loại dầu, kem, thứ hồng, thứ đen, thứ chai, thứ típ đều đề nhãn bằng chữ Trung Quốc nhỏ xíu, không biết thứ nào là gội đầu, thứ nào là kem xoa mặt, dầu nhuộm tóc... Có cái đề giá 10, 20 ”nguyên” (tệ), có cái không đề.

Trong lần tắm đầu tiên, tôi đã bóc hai  lọ, ngửi không phải thứ dầu gội đầu mà vợ hay mua ở nhà, đành bỏ lại chỗ cũ, cuối cùng phải tắm gội bằng xà phòng. May nhờ có anh Triều Ân, tôi đã biết được loại dầu gội đầu miễn phí. Nhưng khi rời khỏi  khách sạn, tôi cũng phải trả tiền hai lọ đã bóc hết 38 “tệ”, vì đây là hai thứ có ghi giá, tức họ bán. Coi như đó là một thứ “ngu phí”.

Cứ trước bữa ăn, anh Triều Ân rủ tôi xuống đường dạo chơi cho biết phố xá Bắc Kinh. Anh  gọi là tôi theo liền, vì tôi thấy anh là con người hiền từ, trung thực, sống bằng nội tâm, rất đáng tin cậy.

Trong tất cả các cuộc tiếp xúc, ứng xử, tối về anh đều sang phòng tôi tâm sự. Anh nhận xét rất chính xác tư cách, tính tình của từng người trong đoàn. Anh lặng lặng thế mà vô cùng sâu sắc.

Ví dụ trong một bữa ăn, Kim Ba (nhà thơ, Phó chủ tịch Hội Văn nghệ Bến Tre) nói câu gì về ẩm thực Nam Bộ đó, một thành viên trong đoàn đột nhiên đỏ mặt, trợn mắt lên mắng: ”Mày phải bỏ cái chất Nam Bộ của mày đi thì mới  nên người được!”.

Anh Triều Ân lắc đầu tủm tỉm cười không nói gì, có lẽ vì đoàn đang ăn với người phiên dịch và nhà văn Trung Quốc. Tối về khách sạn, anh  bảo tôi: “Nói như thế là không chuẩn văn hóa. Chính cái chất Nam Bộ ấy đã đúc nên Sơn Nam, Đoàn Giỏi, Nguyễn Quang Sáng… Sao lại bảo người ta “bỏ cái chất Nam Bộ của mày đi. Thật kỳ cục!” .

Đó là nhân cách văn hoá ẩn chìm của Triều Ân. Vì thế tôi và anh hay gần gũi nhau. Đi đâu hai anh em cũng đi bên nhau, thủ thỉ trò chuyện. Trong những lần đi như thế, anh phát hiện ra rằng tên đường phố ở Bắc Kinh người ta không lấy tên người để đặt tên đường, vì đi qua nhiều phố lớn tám, mười làn xe đều không thấy tên những nhân vật chính trị hay văn chương nổi tiếng trong lịch sử Trung Quốc, mà chỉ có các tên đường như Công Thể Đông, Đông Thổ Thành, Hồng Tinh, Vĩnh An, Giải phóng.v.v. Đi về các thành phố Thành Đô, Quảng Châu… nghe Triều Ân, hoặc phiên dịch Thẩm Tố Anh dịch tên đường phố, tôi cũng thấy như thế, có lẽ đây là cách đặt tên theo phương hướng và địa danh, không biết có đúng không?

Có lần, ở Bắc Kinh, anh em đã xuống tầng trệt ăn sáng rồi, xe đang chờ để đi làm việc với Hội Nhà văn Trung Quốc, vẫn không thấy Triều Ân đâu. Nhờ anh phiên dịch Thẩm Tố Anh đi nói với mấy cô lễ tân gọi điện lên phòng 806, vẫn không ai cầm máy.

Tôi hốt hoảng. Mọi người cũng lo lắng, sợ bác Triều Ân hôm qua đi tham quan hăng hái nên bị ốm nặng rồi. Ốm mà không thể cầm máy nghe điện thoại là ốm nặng lắm?! Thế là nhờ người lễ tân cùng chạy lên mở phòng. Mở ra thì thấy nhà thơ Tày của chúng ta đang ngồi viết say sưa.

Tôi đã mau mắn chụp được tấm ảnh Triều Ân đang ngồi viết quên thời gian ở khách sạn 4 sao Lục Hợp Hưng. Thì ra do viết mê mải quá, lại già, khi mệt thường bị bệnh lãng tai, nên anh không nghe điện thoại gọi. Mọi người thở phào, ngồi chờ Triều Ân ăn xong mới ra xe…

Nhưng phải nói nhờ  ghi chép công phu, tỉ mỉ như thế, nhờ lao động sáng tạo liên tục, chỉ trong 10 ngày thăm viếng Trung Quốc, Triều Ân về nước đã xuất bản ngay tập thơ Một lần thăm Trung Quốc (NXB Văn hoá dân tộc, 2005). Đó là kết quả, thành quả tâm hồn của một chuyến đi mà nhiều người trong đoàn nhà văn chúng tôi không có được.

Sau chuyến đi ấy tôi có viết dở cuốn bút ký “Trung Hoa du ký”, đã in trên báo gần chục cái ghi chép lấy từ cuốn sách ấy, nhưng chưa có dịp đầu tư thời gian sửa chữa, còn hầu như những người khác không thấy in ấn gì trên báo cả.

Phải công nhận là Triều Ân đi là để cảm, để hiểu, để viết, chứ không phải đi “xuất ngoại” một chuyến ngao du để cho bằng người khác. Tập thơ của Triều Ân khởi đầu là bài Ghi chép trên đường bay: Đường bay Bắc Kinh trưa hè đầy nắng/ Ngoái lại Nội Bài lòng dạ vấn vương…

Đó là nỗi lòng của người lần đầu xa xứ. Và kết thúc là bài thơ Bên bờ Châu giang, kể chuyện đức hy sinh của người anh hùng Việt Nam Phạm Hồng Thái, để chia tay với người đẹp hướng dẫn viên du lịch Quảng Châu Vương Ly Ly vương vấn: Em thủ thỉ hay tiếng gió ru sông thở / Chuyện anh hùng Phạm Hồng Thái Việt Nam…

Nghe em nói là ngỡ như sông thở thì hay quá, thơ quá! Trong tập thơ có bài Triều Ân sáng tác bằng chữ Hán như bài “Tặng Trung Quốc tác gia Trần Hỷ Nho”.

Trần Hỷ Nho là nhà văn Trung Quốc, dịch giả dịch văn học Nhật Bản, người được khắc tên vào hai chiếc bình gốm sứ khổng lồ tại Bảo tàng Nhà văn Trung Quốc ở khu Triều Dương, Bắc Kinh.

Anh là Trưởng ban Đối ngoại của Hội Nhà văn Trung Quốc khi chúng tôi sang, người đã trực tiếp lo lắng hàng ngày cho đoàn và đi cùng đoàn chúng tôi trong suốt 10 ngày thăm Trung Quốc.

Bài thơ của Triều Ân tặng Trần Hỷ Nho có  phỏng hai câu thơ của Lý Bạch tặng Uông Luân rất ăn ý: Động đình hồ nước sâu ngàn thước / Khôn sánh thân tình của chúng ta…

Đó là bài thơ mà Triều Ân đã đọc tại buổi chia tay của đoàn với các bạn bè Trung Quốc tại một tửu điếm ở Quảng Châu, trước lúc chúng tôi lên máy bay về nước.

Qua tập thơ tôi rất ngạc nhiên về sức cảm, sức viết của anh Triều Ân. Tính ra mỗi ngày anh làm tới hai ba bài thơ. Đó là sức sáng tạo thơ ca liên tục vào loại hiếm thấy!

Lạ lùng hơn, sau chuyến đi  10 ngày ấy, Triều Ân về làm một bản “Báo cáo  sau đợt đi thăm và làm việc tại Trung Quốc” gửi cho UBND tỉnh Cao Bằng dài 10 trang A4, kể chi tiết thời gian từng ngày đi đâu, đến đâu làm gì, rồi  lịch sử, sự tích, ý nghĩa của từng di tích, thắng cảnh chúng tôi đã đến thăm ở Trung Quốc.

Không biết là lãnh đạo tỉnh bắt buộc hay Triều Ân tự làm, nhưng chúng tôi thì chẳng ai làm “báo cáo” gì cả. Đọc bản “Báo cáo” ấy của Triều Ân, tôi mới biết giá trị của những ghi chép của anh trong chuyến đi thực tế ở nước bạn.

Anh Triều Ân có phô tô gửi cho mỗi người trong đoàn một bản. Nhờ “báo cáo” ấy, tôi đã có thêm nhiều tư liệu quý để  viết các bài bút ký, ghi chép về Trung Quốc đã in trên các báo, mà khi đi thực tế tôi đã “cưỡi ngựa xem hoa”, chỉ chụp ảnh mà không chịu ghi chép gì. 

Khi tôi viết về món Lẩu Tứ Xuyên cay tê dại, tôi quên mất cái tên quán lẩu hai tầng ở phố ẩm thực ở Thành Đô, từ Huế, tôi lại điện hỏi  bác Triều Ân. Tôi rất  cảm phục khi nhà thơ người Tày của tôi đã ghi cụ thể, chi tiết giá vé vào từng di tích tham quan như: “Cố Cung Bác Viện vé thăm quan ngày thường 40 nguyên (tệ), ngày đông khách 60 nguyên”,  Vạn Lý Trường Thành giá vé theo nhiều khu vực khác nhau: Trường Thành ở dãy núi Bát Đạt cách Bắc Kinh 60 km: vé 40-45 nguyên; Trường Thành ở Mã Tư Đài cách Bắc Kinh  120 km: vé 30 nguyên…”, vào Thiên An môn vé 15 nguyên, Thiên Đàn vé 30 nguyên, Thung Lũng Hoang Long vé 110 nguyên; Di sản thế giới Cửu Trại Câu 145 nguyên, Đập thủy Lợi Đô Giang 30 nguyên, Tam Quốc Thánh Địa 40 nguyên.v.v. Đó là tư chất, cách làm việc cẩn trọng của một nhà nghiên cứu văn hoá có kinh nghiệm.

Ông già Triều Ân lúc ấy đã 75  tuổi mà đi đứng hăng hái lắm. Leo Vạn Lý Trường Thành băng băng. Triều Ân, Kim Ba, Tùng Điển và tôi là bốn người trong đoàn leo lên được Trạm thứ nhất, còn những người khác đều dừng lại nửa chừng.

Vào rừng Khu Di sản thế giới Cửu Trại Câu, Tứ Xuyên, có chặng phải đi bộ hai ba cây số lội rừng, Triều Ân vẫn đi băng băng. Nghỉ mấy phút chờ xe, anh cũng rủ tôi đi thăm bản làng người Tạng và chụp ảnh kỷ niệm.

Có lẽ những năm tháng hoạt động Việt Minh, làm cán bộ ngành giáo dục Cao Bằng, rồi Hội Văn nghệ Cao Bằng, ông đã quen với lội rừng leo núi để đi đánh giặc, đi sưu tầm nghiên cứu văn hoá Tày, nên đôi chân anh đã  quen leo núi vượt rừng? Tính trai trẻ đó của Triều Ân cũng thể hiện trong những khi thi sĩ tiếp xúc với những người đẹp Trung Quốc làm hướng dẫn viên du lịch cho đoàn.

Quá trình tham quan, đoàn chúng tôi được hai cô gái trẻ nhan sắc làm hướng dẫn viên. Đó là Lưu Huệ và Vương Ly Ly. Mỗi người đều có ảnh chụp với Triều Ân và Triều Ân đã kịp làm thơ tặng trước các em trước khi chia tay, vì hiếm khi gặp lại lần thứ hai.

Với Lưu Huệ, Triều Ân làm tặng bài thơ Sơn cước : Làn mây bay ngang núi / Hãy cất hai đồng tiền / Hãy cất hai lá liễu / Cất màu đào đào tiên/ Cất đi làn tim đỏ / Để xa, anh dễ quên… Nghĩa là nếu em không cất những lúm đồng tiền, mắt lá liễu, màu má đào… thì anh sẽ không bao giờ quên được em!

Với Vương Ly Ly thì : ”đi cùng em bên bờ nước Châu Giang / Mặt nước buồn trôi, lăn tăn ánh điện…”. Nghe các cô gái vùng núi Tứ Xuyên yểu điệu thướt tha trong  tiếng  đàn tỳ bà thánh thót, Triều Ân không cầm được lòng :

Non xa mây núi chập chùng

Trăng soi thành cổ, mịt mùng sương lan

Nàng trong cửa sổ bàng hoàng

Lắng nghe điệu nhạc râm ran đường về

Đó là chất thi sĩ ngất ngưởng lãng tử còn lại rất hiếm hoi ở các “nhà thơ nhà nước” hiện nay. Nhiều lần bấm máy chụp ảnh Triều Ân với người đẹp Trung Quốc ở Đập Đô Giang, Tứ Xuyên, ở Nhà thờ họ Trần ở Quảng Châu, tôi nghiệm ra một điều lý thú: Tôi trẻ hơn anh đến  20 tuổi, nhưng tôi đã già hơn Triều Ân về chất thi sĩ nhiều lắm, nhiều lắm, nhà thơ họ Hoàng người Tày yêu mến của tôi ạ…

Huế, 5/1/2008  

Cùng chuyên mục

Xem thêm Văn hóa

Mới - Nóng