Ben giữa đời - Chương một - Phần II

TP - Doris Lessing, nữ văn sĩ 88 tuổi người Anh vừa được giải Nobel Văn học 2007. Đánh giá sự nghiệp văn chương của bà, nhà phê bình Irving Howe gọi là “nhà khảo cổ về các mối quan hệ con người” và “nhà sử thi” trong tuyên bố trao giải Nobel Văn học 2007.

Tuy nhiên, trả lời phỏng vấn Nobelprize.org, bà nói “tôi không mang sứ mệnh gì khi viết văn”. Tiền phong giới thiệu cùng bạn đọc một phần Chương I, tác phẩm “Ben giữa đời” của bà.

Cuối chiều, bà làm cái điều bà vẫn làm khi một mình: Lấy mấy lon bia trong tủ lạnh ra, rót vào cốc mình, rồi rót một cốc nữa cho nó. Họ chuẩn bị thưởng thức buổi chiều theo lối mà nó thích nhất, xem TV.

Đầu tiên, bà tìm một mảnh giấy và viết lên đó:

Ellen Briggs

Số 11, tòa nhà Mimosa

Phố Halley, London, bưu cục SE6

Bà bảo: “Cậu phải xin mẹ cậu cái giấy khai sinh. Nếu bà ấy còn đang chưa làm xong, cậu phải bảo bà ấy viết thư đồng ý cho tôi chăm sóc cậu. Địa chỉ đây”.

Nó không trả lời: Nó đang khó chịu.

“Cậu có hiểu không, Ben?”

“Hiểu”.

Bà cũng chẳng rõ nó có hiểu thật không, nhưng nghĩ chắc cũng ổn.

Nó đăm đăm nhìn về phía máy thu hình. Bà đứng dậy bật chương trình rồi trở lại nựng nịu con mèo. “Đây, đồ miu, được chưa?”. Nhưng nói thế mà mèo vẫn chưa rời mắt khỏi Ben.

Buổi chiều đã bắt đầu dễ chịu. Nó dường như chẳng nhìn thấy gì. Thỉnh thoảng bà đổi kênh khi nghĩ nó không hợp. Ben vốn thích chương trình thiên nhiên hoang dã, nhưng tối nay món đó chẳng thấy đâu. Càng tốt, bởi đôi khi nó quá phấn khích, mà những cảnh hoang dã rất dễ khuấy động. Ngay từ đầu bà đã hiểu rằng nó đang phải tự kiềm chế bản năng, những tiềm ẩn bà chỉ có thể đoán mò. Ben tội nghiệp, bà biết nó là thế, nhưng không hiểu vì sao, và bằng cách nào.

Đến giờ đi ngủ, bà giở đệm ra sàn cho nó nằm, nhưng chăn thì để nguyên trong hộp vì nó không thích đắp. Con mèo thấy kẻ thù đã chiếm mất sàn, thì nhảy tót lên giường, rúc vào cạnh bà lão. Nằm đó, bà không nhìn thấy Ben, nhưng chẳng sao, bà thấy vẫn an toàn. Khi đèn đã tắt, căn phòng vẫn chưa tối hẳn vì ngoài kia đêm nay có trăng.

Bà già lắng nghe tiếng thở của Ben đang chuyển dần sang thứ mà bà vẫn gọi đùa là tiếng thở của đêm. Đó giống như, bà nghĩ, một câu chuyện, những tình tiết hay những chuyến phiêu lưu mà con mèo có thể hiểu. Trong giấc ngủ, Ben trốn khỏi tay quân thù, bị săn đuổi, rồi nó chiến đấu. Bà biết nó không thuộc giống người: “một trong hai chúng ta”, như bà vẫn bảo. Có lẽ nó là một dạng Người Tuyết.

Khi gặp nó lần đầu tiên trong siêu thị, bà thấy nó đang lảng vảng- phải, chỉ có từ này thích hợp. Bỗng nó vươn tay chộp mấy ổ bánh mì. Rồi sau đó bà liếc trộm nó, thằng người rừng, và bà không bao giờ quên. Nó là một khối thuốc nổ, nén những nhu cầu dễ sợ, những cơn đói và sự thất vọng, và bà biết rằng, thậm chí như bà nói với những người xung quanh, “Không sao, nó đi với tôi”.

Bà đưa nó cái bánh patê vừa mua định dành cho bữa trưa, nó ăn ngấu nghiến, rồi để yên cho bà dắt ra khỏi siêu thị. Bà dẫn nó về nhà, và cho nó ăn. Bà tắm rửa cho nó, dù lần đầu tiên ấy nó phản đối. Bà thấy cái cách nó phản ứng với những miếng thịt lạnh- rất hoảng sợ; nhưng bà vẫn mua thêm thịt cho nó. Chỉ chuyện này nó khác người nhất: ăn thịt không biết no. Và bà là một phụ nữ già, chỉ ăn chút đỉnh ở nhà, nhấm nháp dọc đường bằng những quả táo, miếng phomát, cái bánh nướng. Món hầm bữa đó thật đúng lúc: Bà chỉ thi thoảng lắm mới nấu.

Một đêm, khi bộ ba đã đi nằm, và đã ngủ, bà bỗng giật mình vì bị đè vào chân. Ben đã bò lên và nằm vào giường, đầu gối cạnh chân bà, còn chân nó thì co quắp. Chính con mèo khó chịu đã làm bà tỉnh giấc. Nhưng Ben đã ngủ ngay. Đó là cách một chú chó tự thu xếp, tìm chỗ dựa, và trái tim bà nhói lên khi cảm nhận được sự cô đơn của nó. Sáng ra, nó thức dậy và thấy ngượng. Dường như nó cảm thấy mình đã làm điều sai trái, nhưng bà bảo “Không sao, Ben. Phòng rộng mà”. Đúng hơn là chiếc giường khá rộng, vật dụng bà mua sau khi cưới.

Bà nghĩ rằng nó thật giống một chú chó thông minh, luôn biết cách thu xếp giữa nhu cầu và nghĩa vụ. Chẳng bù cho con mèo, không bao giờ bảo được. Và nó cũng không giống một con khỉ, vì nó nặng nề và chậm chạp. Không giống bất cứ thứ gì bà từng biết.

Nó là Ben, nó chỉ là chính nó, thế nào cũng được. Bà hài lòng vì nó đang sắp tìm được một gia đình. Nó bày tỏ khó khăn, nhưng bà sắp xếp được, và đó là một gia đình may mắn. Và nó cũng có một cách thể hiện, tuy khó nhận ra, từ vẻ ngoài. Nó dường như thích có mẹ. Nếu bà có thể tốt với Ben- Ellen Briggs thấy thế- thì cái gia đình này sẽ tốt. Nhưng nếu điều đó là khó, và nó lại khùng lên ở đây, thì bà có thể đưa nó ra Sở Công chính để tìm lại thân phận cho nó.

Bà lúng túng lắm khi nghĩ đến đoạn đó, và không biết phải giải quyết cách nào. Nó nhắc lại rằng nó đã 18, và bà phải tin nó. Theo nhiều cách, nó còn trẻ con, nhưng khi bà nhìn kỹ khuôn mặt nó, bà lại cảm thấy nó đã trung niên, với những nếp nhăn quanh mắt. Nhăn nhỏ thôi, nhưng có thật, mà chẳng đứa trẻ 18 nào lại nhăn như thế.

Bà đã vơ vẩn đến mức không hiểu kiểu người như nó có dậy thì quá sớm để rồi phải chết trẻ? Trung niên ở tuổi đôi mươi, và lên lão khi bốn mươi, trong khi bà, Ellen Briggs, đã tám mươi mà chỉ mới vừa bắt đầu thấy chậm chạp. Bà hy vọng chưa đến nỗi phải khó nhọc lê bước ra Sở Trữ lục xếp hàng chờ bảo trợ, chỉ ý nghĩ ấy thôi đã khiến bà phát ớn.

Bà thấy buồn ngủ, nghe liu riu tiếng Ben ú ớ mơ, và thức dậy để thấy rằng nó đã ra đi. Mảnh giấy có địa chỉ của bà không thấy đâu, cả tờ 10 bảng bà để cho nó cũng vậy. Mặc dù bà đã biết thế nào cũng đến ngày đó, nhưng giờ đây bà vẫn phải ngồi xuống, đôi tay giữ chặt trái tim đang sắp rơi.

Từ khi nó bước vào đời bà, mấy tuần trước, một linh tính cũng đã đến. Ngồi một mình, bà nghĩ không biết nó đi đâu. Nó đang làm gì nhỉ? Nó có lại đang gian lận gì với người ta không? Bà vẫn thỉnh thoảng nghe nó lẩm bẩm “Họ cướp tiền tôi”, “Họ lấy hết cả”. Rắc rối ở chỗ bà không hiểu nó mắc mớ gì.

“Khi nào hở Ben?”

“Hồi hè”

“Không, tôi hỏi năm nào kia?”

“Tôi không biết. Chỉ sau hồi nông trại”

“Nghĩa là năm nào?”

“Tôi ở đó hai mùa Đông”

Bà biết nó khoảng 14 lúc rời nhà. Vậy nó đã làm gì trong 4 năm sau đó?

Mẹ nó đã sai lầm khi nghĩ nó đã đi xa hẳn. Nó và đồng bọn trốn học,  ẩn trong một ngôi nhà hoang rìa thành phố, rồi từ đó cướp phá, trộm đồ, đột nhập đêm đêm, và cuối tuần thì đánh nhau với bọn trẻ trong phố làm vui. Ben là đại ca vì nó khỏe nhất và dám bênh vực bọn đàn em. Ấy là chúng nghĩ vậy, chứ thật ra trong thâm tâm, Ben đã trưởng thành, nó đã lớn, còn hơn một bậc cha chú, trong khi bọn kia vẫn là nhóc con.

Lần lượt bọn chúng bị tóm, bị đưa đi trại giáo hóa, hoặc bị trả về gia đình hay nhà trường. Một chiều, Ben đang đứng gần một đám trẻ đánh nhau- nó không tham gia, nó sợ nó khỏe hơn sẽ quá tay- nên nó nhận ra nỗi cô đơn, không người chia sẻ. Rồi thế nào, nó cũng nhập bọn già hơn, nhưng nó không ông kễnh được như với bọn oắt.

Bọn lớn bắt nó trộm đồ, mua vui cho chúng, rồi giễu cợt vẻ điềm đạm của nó. Nó bỏ đi và dạt xuống Tây Quận, nhập với bọn đua môtô, là lũ đang bị địch thủ rình. Nó nóng lòng muốn phi môtô, nhưng không cách gì thỏa nguyện. Tuy vậy, lân la cạnh những cỗ máy đó thì được, nó thích lắm. Bọn kia hay bắt nó coi xe những khi chúng vào phố ăn nhậu. Chúng cũng cho nó ăn, đôi khi cả tiền.

Một đêm, bọn đối thủ mò đến, thấy nó đang đứng canh nửa tá môtô. Chúng đánh nó hội đồng, 12 chọi 1, rồi biến, bỏ mặc nó nằm lại đầm đìa máu. Đồng bọn trở về, thấy mất 2 chiếc xe, định trút hận lên nó. Nhưng chúng bỗng thấy cái thằng cù lần quê kệch ấy đột nhiên khác hẳn, rú rít chống trả như một thằng điên. Nó lần lượt tẩn tơi bời từng đứa một. Bọn chúng van xin, rồi khi được tha liền xúm lại nịnh bợ nó.

Nó không gẫy chiếc xương nào, nhưng mất nhiều máu nên lả đi, và được một cô gái đưa vào quán rượu nơi cô chạy bàn. Cô rửa vết thương cho nó, đặt nó vào một góc, kiếm thức ăn, rồi lay nó tỉnh. Nó, từ đầu đến cuối, vẫn im như thóc, có lẽ vì quá ngạc nhiên.

Một gã đàn ông đến bên, ngồi xuống hỏi nó có muốn vào làm chỗ gã không. Đó là lý do vì sao Ben lại có mặt ở nông trại. Nó đi với Matthew Grindly, gã đàn ông ấy, vì nó biết rằng, từ đây, bất cứ thằng nào trong hai đám kia nhìn thấy nó, chúng cũng gọi đồng bọn đến và nó sẽ không còn đường thoát.

Nông trại cách xa mọi đường lớn, ngoại trừ một con đường nhỏ đầy bùn dẫn vào. Một vùng quạnh hiu, và ngôi nhà lớn cũng chẳng hơn gì, đồ đạc sơ sài, mái thủng những lỗ lớn. Nông trại này là thứ người cha bỏ lại cho ba anh em, Ted, Matthew, và Mary Grindly, từ 20 năm nay. Họ chẳng có tiền, chỉ tạm đủ sống nhờ gia súc, cây trái, và rau trong vườn. Một vài khoảng đồng gọi là màu mỡ thì đã bị bán cho những người láng giềng thu hoạch cỏ khô. Mỗi tháng một lần, Mary và Matthew- giờ đây là Mary và Ben- đi ba dặm vào làng mua thực phẩm và rượu mùi cho Ted. Họ phải đi bộ vì ôtô đã nằm gỉ trong sân.

Khi cần tiền mua đồ ăn, thanh toán điện, đóng thuế, Mary nói với Matthew: “Bán gia súc thôi”. Nhưng lần cuối đã lâu lâu rồi, và các hóa đơn vẫn treo nợ.

Cái chốn cằn cỗi này dần bị lãng quên, người địa phương thì một phần không muốn nhắc đến vì sợ xấu hổ, phần khác ngại thương hại mấy anh em nhà Grindly. Họ bảo chúng là lũ trẻ- dù giờ đây chúng đã sắp già- chẳng khác gì ngờ nghệch. Hơn nữa, chúng còn thất học. Mary muốn lấy chồng, nhưng không có của hồi môn. Chính ả là người duy trì nông trại. Ả giục giã các anh mọi việc, từ chữa hàng rào, đến cọ rửa chuồng bò, rồi đưa cừu đi xén lông, trồng rau củ...

Ả phải quanh quẩn bên hai ông anh suốt ngày và buồn bã, vì ả phải chịu thế thôi. Rồi đến Matthew, người phải làm mọi việc. Ted thì suốt ngày say rượu trong buồng. Y chẳng buồn, nhưng y không làm được việc gì. Matthew bị viêm khớp, suy hô hấp, và công việc nặng nhọc luôn làm gã quá tải. Gã cho gà ăn, trông nom rau, nhưng chỉ thế cũng đủ.

Ben được dành cho một buồng, đồ đạc lăng nhăng- rất khác những căn phòng tiện nghi nó từng được biết. Nó ăn uống tùy nghi, rồi làm quần quật từ sáng đến đêm, ngày nào cũng vậy. Nó thừa hiểu phải làm hầu hết mọi việc, nhưng không có nghĩa rằng thiếu nó nông trại sẽ chết. Trại này, hay trại nào cũng vậy, sẽ bị dẹp ngay, nếu Ủy ban Thừa công ra chỉ thị và những cặp mắt cú vọ để ý. Đó đúng là vùng bất trị, là khúc ruột thừa. Mọi người sẽ đổ đến chật đường, đứng đầy sân để hòng mua rẻ. Điện thoại sẽ bị cắt, vì nợ tiền quá lâu, và họ sẽ gặp Mary, một ả gái già cáu kỉnh, luôn miệng đuổi khách cút đi, rồi đóng sầm cánh cửa trước mũi họ.

(Câu chuyện tiếp diễn với việc Ben bị các chủ trại quanh vùng dụ dỗ. Mary sợ mất Ben, lừa cậu rằng sẽ chia một nửa cuộn tiền trong ngăn kéo. Rồi khi Ted chết vì say rượu, Matthew thế chỗ nằm ho suốt ngày, Ben tranh thủ đi hái nho, táo thuê quanh vùng, bị bạn làm cùng trộm sạch tiền công, trở lại thì nông trại đã tiêu điều hoang vắng. Tìm đường về với mẹ thì thấy bóng cha dượng hung dữ, cuối cùng không còn đường nào khác, cậu phải về London, lang thang đói khát, rồi được bà Ellen Briggs cưu mang như trên đã kể- ND tóm tắt).

Doris Lessing - Nobel Văn học 2007
(Lã Thanh Tùng dịch theo Guardian.co.uk)

Video đang được xem nhiều

Cùng chuyên mục

Xem thêm Văn nghệ

Mới - Nóng

Khám phá