Chuyện tình của cha tôi - họa sĩ Nguyễn Thiệu

TP - Có một bữa, bác Ngôn (họa sĩ Hoàng Lập Ngôn) tới, kể về chuyến bay Đà Lạt và mối tình với thiếu nữ kém ông 50 tuổi. Ông kể, mỗi chuyến bay, bác chỉ thở Yoga, chục nhịp là hạ cánh xuống Sài Gòn!?

Họa sĩ Nguyễn Thiệu chơi đàn đáy
Cha tôi tập Yoga vào mỗi sớm, để tự cân bằng từ ngày mẹ tôi mất. Ngày nào ông cũng thiền, mỗi khi thức dậy và tự xoa bóp trước khi đi nằm.

Buổi ấy, ông Ngôn cứ ngả nghiêng bên cha tôi tủm tỉm. Khách về, tôi ngồi nán lại trên căn gác nhỏ, quanh những chiếc đàn. Tôi đánh bạo hỏi: “Bác Ngôn hay thật! Cậu xưa yêu thế nào? Cậu lấy mợ là do ông tìm cho. Nhưng thời học trên Hà Nội, cậu không yêu ai à?”.

“Có chứ. Thanh niên như chúng mình, ai chả một lần yêu!”. “Cậu yêu ai? Bà ấy thế nào? Đẹp không?”. Tôi dồn. Ông không trả lời và tủm tỉm. Lại với chiếc đàn đáy trên tường xuống nhẩn nha chơi.

Bữa ấy ông chơi đàn rất khuya. Ai đã nghe đàn đáy nhiều hẳn biết. Đàn đáy có ba dây mà khá nhiều giọng điệu. Sự nhấn nhá của nghệ sĩ, trên các cung phím lõm, ngón đàn diệu nghệ tạo nên những âm thanh mơ hồ, song đầy biểu cảm, sâu sắc. Những âm thanh dầy và ấm, cao và trong hòa nhau, có lúc hệt như tiếng người.

Năm 1985, khi ấy đời sống khó khăn. Tôi và em trai góp tiền lại, mới đủ mời ông đi Sài Gòn một chuyến. Chả là trong ấy ông còn vài người bạn, xa nhau từ 1954. Một nguyên nhân nữa, muốn tìm lại bức sơn dầu 24 mét vuông, vẽ năm 1952, theo đơn đặt hàng của chính phủ Bảo Đại. Thế thôi.

Ông gặp lại bè bạn, đa phần là dân mỹ thuật và kiến trúc. Những câu chuyện mặn, nhạt! Rồi qua bè bạn cũ chỉ dẫn, chúng tôi tìm được bức tranh xưa, treo ở Nha kiến trúc hay Sở lục lộ gì đó của Sài Gòn cũ. Ông cẩn thận mang theo mấy tấm ảnh, chụp ông đứng trên giàn giáo, vẽ bức tranh ấy.

Người đại diện của cơ quan mới, cũng là lứa học trò ông, mừng lắm khi được tiếp tác giả bức tranh. Anh nói: “Thầy kí cho em một chữ vào đây. Qua mấy chế độ, bao đời tổng thống, họ đã cạo tên tác giả đi, vì nghe nói, thời ông Diệm, họ biết tác giả ở ngoài Bắc, thành ra chúng con không rõ tranh của ai. Thấy đẹp, nên cứ để nguyên như khi tiếp quản”.

Tôi nhìn, bức sơn dầu choán giữa tường đại sảnh của tòa nhà lớn, vẽ một cây đa cổ thụ rủ xuống đất rễ con và rễ cái. Mấy người nông dân, nữ mặc yếm hai dây, quanh gốc đa.

Nổi trên đại cảnh là bác nông dân, vai vác bừa, dắt trâu mộng. Ra xa là cổng làng, xanh xanh đồng lúa. Cảnh trí và nhân vật hoàn toàn Bắc Bộ! Tên tranh là Quê hương.

Đó là một buổi tối Sài Gòn, trăng buồn, đầy, cao và xanh. Gió hây hây đùa trên mái tóc còn đen của tôi, khi hai cha con đi dạo bên bờ sông lấp lánh ánh điện mầu, hắt xuống từ những dãy nhà bên bờ, ông chợt bảo: “Mai con dẫn cậu tới bà N. nhé!”.

Bà N. là thế nào với nhà ta hở cậu? Không biết trong đêm tối nét mặt ông ra sao. Yên lặng một lát, ông nói: “Cậu chẳng giấu. Hồi ở mĩ thuật, bà N. học sau cậu một khóa. “Người yêu cũ của cậu à?”- Tôi cười khẽ. “Cái thằng này!”.

Câu chuyện ông và người đàn bà kia cũng chỉ năm sáu chục bước chân. “Cậu và bà ấy yêu nhau. Học xong, ông nội con gọi cậu về quê dạy học, coi sóc gần chục mẫu ruộng, và vẽ. Bà N. vào Nam. Gia đình nhà ấy rất giàu.

Thời trước, phải rất giàu mới đủ tiền cho con ăn học Boda (Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương). Nhà mình không giàu. Ông phải nợ nần và bán dăm mẫu ruộng thóc cho một năm dự bị. Sau, học chính thức, cậu có học bổng toàn phần mới đỡ.

Năm 1952, khi sinh đứa con mà ta xem hồi sớm, vợ chồng đưa xe ra tận chân máy bay đón cậu. Ông chồng cũng là bạn chung, dân kiến trúc Boda, sau sang Pháp học thêm”. Tôi không dám hỏi vì sao ông không yêu đến cùng, mà lại lấy mẹ tôi. Có vậy! Vâng, sớm mai con sẽ đưa cậu tới!

Sớm hôm sau tôi đưa ông đi bằng Honda.

Cái bưu thiếp ố vàng có dòng địa chỉ, mực đã phai mầu, ông móc ra từ túi áo vét từ thời Pháp cũng đã sờn, làm tôi đọc mãi mới ra. Vòng vèo cả giờ, tôi đưa ông đến một biệt thự cổng cao rào kín ven ngoại.

Chiếc cổng sắt long hết sơn và chuông điện ấn mãi không thèm kêu. Mất điện! Tôi nói và đập mạnh vào cửa sắt. “Ấy, con đừng làm thế, nhẹ tay thôi!”.

Một lát, phải chừng chục phút, tôi mới nghe thấy tiếng chân ra. Đúng hơn là, tôi nghe tiếng lá khô vỡ, chạm vào nhau theo một nhịp đều đều.

Giọng một người đàn bà cất lên sau cửa: “Xin lỗi. Các ông hỏi ai vậy?”. “Thiệu đây. Thiệu đây mà!”. Ông ngừng một tí, lấy hơi rồi tiếp: “Có phải N. đấy không?”. Ba chục năm! Thật may! Tôi nghĩ.

Cánh cửa ken két mở ra. Trước mắt tôi là một bà già da đã nhăn nheo, mặc áo nâu dài nhà Phật. Bà gầy, dong dỏng. Khuôn mặt thanh thoát và hơi xanh.

Tôi có cảm giác, bà mong manh như gió từ đâu thổi lại, chứ không phải một thân xác hiện hữu, bằng da thịt đang đứng trước mặt cha con tôi. Đôi mắt này xưa đẹp nhưng buồn.

Tôi thầm nhận xét. Có thể bà vẫn rất đẹp trong cái tuổi cổ lai hy của một thế hệ, nhưng ngay lúc đó, tôi không thể nhận ra, để nay nhớ lại, tả kĩ hơn về bà; hay là với tôi, mẹ tôi là người đẹp nhất.

Mẹ tôi dáng cao thanh, tóc rất dài mượt. Mắt bà đẹp hiền và thăm thẳm. Năm nào, từ Trường Sơn tạt về thăm nhà, giữa trưa đẩy cửa bước vào, thấy mẹ tôi bật dậy trên ghế ngựa. Chao ơi! Mớ tóc dài xăm xắm, mới xa nhà hai năm mà giờ thành trắng xóa, xổ tung chảy xuống nền đá hoa…

Cha tôi mỉm cười, đầu hơi cúi xuống, rồi như muốn vươn tới. Vẫn là câu ban nãy: “Thiệu đây, Thiệu đây. N. có nhận ra Thiệu không?”.

Đôi mắt mgười đàn bà ánh lên, thoáng chớp ngạc nhiên, nheo lại như muốn nhìn cho thật rõ cha tôi. Nhanh lắm, đôi mắt lại lập tức trở lại bình thường. Nhưng tôi vẫn nhận ra, vẫn còn bàn tay như cái lá, gân xanh run rẩy.

“Anh Thiệu! Anh vào bao giờ thế này?”. Giọng run run, miệng tươi lên một chút, nâng hai tay mời cha con tôi vào nhà. “N. nhận ra ngay. Bao nhiêu năm rồi! Mô Phật! Sao anh vẫn nhớ nhà mà tới thế này?”. Ông đưa tay lên, rồi rụt lại.

Theo chân họ, đôi tình nhân cũ thuở nào, tôi đi dọc con đường nhỏ lát gạch hoa, xiên qua một vườn cây, dẫn tới cửa biệt thự màu vôi đã cũ, nhưng kiểu dáng, đúng là nhà của một kiến trúc sư thời Tây.

Bà đi trước. Không, bà lướt nhẹ trên đường thì đúng hơn, như ngọn gió màu nâu thổi nhẹ, thong thả dẫn ông và tôi tới một phòng khách bày bộ sa-lon nhung ở chính giữa.

Hai cha con tôi ngồi xuống sa-lon. “Đây là cháu thứ tư của Thiệu!”. Mở đầu câu chuyện, ông giới thiệu. Người đàn bà xa lạ nhìn sang tôi, ánh mắt như cười thân thiện: “Cháu đi chơi với ông?”. “Dạ, không ạ, cháu đi công tác, tiện đưa cậu cháu vào chơi trong này”.

Bà quay sang ông: “N. nhớ rồi, hồi ra thăm anh, cậu ấy còn bé tẹo!”. Vậy là, họ gặp nhau đã hai lần. Tôi thoáng nghĩ và cảm thấy vô duyên vô cùng khi ngồi bên ông trong cuộc gặp gỡ này.

Chưa biết tìm cách tháo lui, thì “phịch”, cửa phòng sau bật mở. Tôi quay lại. Một cô gái nom đôi mươi, mặt tươi sáng, rạng rỡ cả góc nhà, bước vào với một khay nước trên tay.

- Đây là cháu út của N. Con rót nước mời bác và anh.

- Cháu chào bác ạ! - Cô gái nói giọng Bắc, không tạp pha tẹo nào, như mấy chị tôi di cư lứa 54. Cô cúi đầu, nhẹ chào tôi và rót nước. Cái li sứ men nâu nhạt đặt ngay trước mặt, tôi được chiêm ngưỡng cận cảnh cổ tay cô gái mang trà.

Còn thứ da thịt nào mịn màng hơn da thịt cổ tay tròn thon nhỏ kia, mà tay áo dài cố che đi, giờ lộ ra? Một khuôn nhan tuyệt vời, quý phái và lộng lẫy. Có những vẻ đẹp, tôi đã gặp mà cứ truội đi, trôi qua. Còn khuôn mặt ấy, tận giờ vẫn nằm lại trong trí não của tôi.

Tôi quay sang, cố giấu ánh mắt mình, để ngắm bà rõ hơn một lần nữa. Đó là những phiên bản của tạo hóa, mà thời gian và những gì trong đó, đã phũ phàng đổi thay, tưởng là vô can? Thảo nào, thảo nào! Tôi tủm tỉm.

Bà cũng cười thoáng và bảo, anh và cháu trưa nay ở lại đây dùng cơm với mẹ con N. Cha tôi quay sang nhìn tôi và tôi yên lặng. Trưa nay ông giám đốc phía Nam sẽ mời cơm chúng tôi.

Nhận rồi! Nhưng sao khi ấy, tôi không có sáng kiến, để cha tôi ở lại, cho dài thời gian họ gặp nhau? Sự lạnh lùng của tôi sau cái nhìn của ông, làm nên lời từ chối: “Thiệu ngồi đây với N. chút nữa. Trưa nay cháu nó có việc. Thôi hẹn dịp khác!”.

Ông cười rất tươi như xin lỗi, vốn không bao giờ cất lên thành lời ở những người bạn quá thân với ông. “Vậy thì... Thôi! Thế cũng được”. Bà ngập ngừng rồi lại tươi lên: “Anh vẫn thích uống Cointreau với đá đấy chứ? Dùng trà xong. Anh và cháu uống với N. một li vậy”. Ông lại cười.

Trời ơi, bao nhiêu năm rồi, nhà tôi chỉ có những vỏ chai rượu ngoại lăn lóc trên sân thượng. Những vỏ chai nhãn rất đẹp, có cái cổ chai bọc giấy bạc, có cái bọc thứ kim loại mềm như thiếc. Rồi năm sáu mươi gì đó, mẹ tôi cũng vơ hết, bán sạch cho đồng nát lấy tiền đong gạo. Tôi chợt nhớ, để đưa ông vào đây, chúng tôi gom góp tiền.

Em trai tôi nhét thêm vào hành lí 6 chai sâm banh Nga nặng trịch và dặn, anh chịu khó xách theo, tới Sài Gòn bán lấy lãi, thêm cho cậu đi chơi. Chán thật, thế hệ chúng tôi khi ấy sống như vậy, sao mà bà biết được.

Rượu mầu, ngọt vị cam được rót ra ba cái li pha lê, rưới lên những viên đá trong suốt, lóng lánh như kim cương. Cũng vẫn là búp tay ấy, cẩn thận để dòng rượu vàng cam nhuộm lên các viên đá một mầu thật chẳng phai.

Tôi nhâm nhi thứ rượu ngọt, mà tận sau này, ra nước ngoài, tôi mới hiểu tí chút về dăm bảy loại rượu. Hương Cointreau làm cho môi người đàn bà rất thơm và không có mùi ô trọc gây ra từ loại men vớ vẩn.

Câu chuyện của ông và người tình cũ chả có gì sôi nổi, xốn xang. Toàn là ông hỏi hết người này người khác và bà chậm rãi kể về những ai đấy trong suốt bao nhiêu năm xa cách. Đôi khi họ lắc đầu, xuýt xoa, hay gật gù. Nhưng vẫn là một cuộc gặp lại vô cùng trầm lắng.

Bà chợt ngừng chuyện với cha tôi và ân cần nói: “Cháu nóng lắm phải không?”. Quay sang, bà phân trần: “Máy lạnh có đấy nhưng mất điện anh Thiệu ạ!”.

Tôi nói dối ngay: “Thưa bác, cháu khó ở từ hôm qua. Cháu xin phép ra ngoài hít thở một lát”. “Phải rồi, con dẫn anh ra sau vườn, ở đó có bàn ghế. Hai anh em ra đó trò chuyện”. Tôi đứng ngay dậy. Lại còn có thêm người đẹp thế kia nữa!

Hóa ra sau nhà còn một khoảng vườn khá lớn. Một chiếc bàn đá, bộ ghế nhà vườn bằng sắt lót đệm mây, dưới cây hoàng lan rủ bóng. “Em tên là gì nhỉ?”. Tôi chủ động bắt chuyện. Cô gái cũng tự nhiên.

Ô quan Chưởng  Tranh của Nguyễn Thiệu
Những chùm nắng loang lổ mặt vườn, trên những đám hoa dại và đám cây mộc, nguyệt quế, ngâu v.v… ẩn hiện, đủ lộ ra cả một khu vườn, xưa chắc người chủ của nó phải kì công sắp đặt, giờ bắt đầu tàn tạ. Cỏ dại xanh ngời vươn lên từ các mép tường, kẽ gạch. Sâu tí nữa, có một chiếc am nhỏ.

“Mẹ em thường tụng kinh ở đó, bà sợ tiếng mõ làm cả nhà mất ngủ”. Thì ra, cha cô mất đúng năm mẹ tôi qua đời. Ba anh chị em nữa của cô gái, xưa quây quần ở đây, giờ người đi Mỹ, người ở Pháp. Riêng nàng ở lại với mẹ.

Chúng tôi nói về Sài Gòn. Tôi trả lời cô nhiều câu hỏi về Hà Nội. Tả rất kĩ về cái phố Chanceaulme- Triệu Việt Vương, mà hình như cô rất quan tâm. Thi thoảng, cô khẽ nói: “Thích nhỉ”, làm cho chuyện tôi hứng khởi hơn.

Cô bảo, thể nào em cũng ra đó. Tôi khen khéo ngay: “Em còn quá trẻ và đẹp, còn đi nhiều!”. “Anh nghĩ em bao nhiêu tuổi mà trẻ?”. Cô gặng. Hai mươi! “Hai mươi?”.

Cô cúi xuống cười, má lúm đồng tiền: “Trời ạ, em ba mươi hai rồi. Nhưng chẳng ăn thua với mợ em đâu. Năm bà gần sáu chục. Nhiều thanh niên đi sau còn trêu”. Tôi cười trừ, hóa ra cô chỉ kém tôi dăm tuổi. Người ta bảo, nhất dáng nhì da. Cô được cả hai!

Có tiếng rì rầm và bước chân của ông và bà. Bà bảo, mình ngồi đây cho thoáng anh ạ. Cha tôi kéo ghế cho bà. Bà quay sang con gái, giọng nhẹ như gió: “Mợ vừa ở vườn trước. Có mùi mít chín con ạ. Ta ra xem có đúng không, trẩy rồi mang ra mời bác và anh!”. Dạ! Cô gái đứng dậy và đi vào nhà.

Tôi lại yên lặng bên hai người già yên lặng. Không biết câu chuyện của họ trong phòng ra sao chỉ thấy giờ ông không nói, châm thuốc, để làn khói mỏng tang bay lên cây Hoàng lan đầy hoa vàng đang chầm chậm nhả hương khắp vườn. Thơm quá! Hồi nào…Ông cất tiếng: “Thế mà thoắt cái, như một tiếng vỗ tay!”.

Bà không đáp lời. Cái am của bà, khi ấy lộ rõ, nổi bật trong vườn, trong ánh sáng của mặt trời chiếu đúng bức tường phía trước. Bà nghiêm ngắn ngồi kia, tà áo nâu dài buông gần chạm đất và nét mặt bình yên như gỗ tạc. Cô gái cũng thoắt trở lại với chiếc đĩa lớn đựng quả mít trên tay.

Trái mít nhỏ, bé hơn cái ấm giành pha trà cúc mà cô gái mang ra hồi nãy. Cô gái tách vỏ, hiện ra một chùm múi núc nỉu bám quanh cuống, dài rủ xuống như chùm quả. Cô cầm cuống mít lắc nhẹ, rũ ra “quả vàng” rụng đầy đĩa men trắng muốt. Lập tức không khí tràn ra nưng nức mùi quyến rũ.

“Mời anh và cháu trái mít vườn nhà. Anh thực có duyên, anh Thiệu ạ. Từ ngày anh ấy mất, cây Tố nữ này tịnh không cho quả. Năm nay thế nào, sau mười năm, nó lại bói ra một quả. Sớm nay nghĩ sao, tôi thắp hương cho anh ấy về. Còn trái Tố nữ này, lại như chờ đúng ngày anh vào thì chín”.

Tôi lặng người. Tất cả tĩnh lặng, chúng tôi im lặng, cả khu vườn dường như cũng lặng yên hơn, sau câu nói của bà. Và, đến tận giờ còn lại hương Tố nữ vẫn quấn quýt theo tôi, suốt bao nhiêu năm phiêu bạt sau đó.

Đời sống, luôn có những khúc quanh chẳng đợi. Năm 1988, tôi đi xuất khẩu lao động. Thế là lại thi thoảng mới gặp. Mỗi chuyến về thăm ông, biết bao sự chuyện, nên chẳng khi nào nhắc lại bà N. Một lần, tôi về ăn Tết. Hai cha con đưa nhau lên Hồ Tây thưởng đào Nhật Tân. Khi về, rẽ qua chùa Kim Liên vãn cảnh. Lễ Phật xong, ra cửa chùa nghỉ ở quán nước.

Những trái khế vàng ươm, lá soi nắng nhạt hây hây. Mộc vừa chín thoang thoáng trong gió Tây Hồ vươn lên, làm cho người ta cảm thấy sảng hóa, cởi mở chăng?

- Con còn nhớ bữa cậu và con ở vườn nhà bà N. không? Ông đột ngột hỏi. Tôi ngạc nhiên vô cùng.

Bấy lâu nay, hai cha con chưa một lần nói về bà N. Nghĩ gì tới cái vườn mà tôi kể ở trên? Bấy nay, ông cũng từ chối mọi lời mời của học trò, của bè bạn, của con cái, họ hàng vào lại Sài Gòn dù miễn phí.

Tôi cũng không tiện hỏi vì sao. Người ta có những bí mật của đời sống cần bảo vệ nghiêm ngặt, nhất là dù ông đôi khi, coi tôi là bạn tâm tình, tôi cũng không nên quên cái ngưỡng không bao giờ được phép vượt qua...

Cho vậy, không chỉ việc bà N. Ở ông, nhiều sự kiện không rõ trong quá khứ, ảnh hưởng tới đời sống sau này của các con ông. Những sự kiện cuộc đời như, vì sao từ cương vị Chủ tịch kháng chiến liên xã ông lại, làm việc cho Pháp ở Sở lục lộ.

Vì sao làm việc cho Pháp mà ông vẫn viết bìa báo cho tờ báo bí mật nội thành? Vì sao, có vé máy bay cả nhà di cư ông lại không nhận, từ chối cả biệt thự dành sẵn trong Nam đợi ông, ở lại mà không hề oán trách một ai trong cả bao nhiêu năm, để trải qua một giai đoạn sóng gió sau hòa bình!

Những quá khứ ấy, có điều ghi rõ trong lí lịch khi nhập ngũ của tôi, có cái không có và có những sự kiện, gây nên một chuỗi những năm tháng cơ cực trong gia đình tôi cứ hiện lên, hiện lên ở buổi chiều hôm đó.

Tôi nhớ lại những lá thư của ông giấu nỗi đau vợ mất gửi cho con trai ở chiến trường. Tôi tưởng tượng ra cảnh, qua cháu ruột tôi kể, mẹ tôi chết trong nhà tắm vì xuất huyết não.

Sáu mươi tuổi ta. Bà gầy như xác ve, nằm cong queo trong phòng tắm lạnh. Và, ngay sau đám tang, hàng chục người chòm xóm tới đòi nợ. Nợ phải trả, từ ba bơ gạo, góc nước mắm, tới tiền chục, tiền trăm. Cái giỏ tiền viên chức lưu dung của cha tôi cực nhỏ, lại khi chiến tranh, phải xẻ nát để chi bao nhiêu việc.

Còn bà, toàn ăn vớ ăn vẩn, thì sao mà làm được cái hom? Biết bao gia cảnh như vậy, cứ gì chỉ nhà tôi. Cũng chả có văn tự gì, nhưng con cái trong nhà phải trả họ, đúng với tinh thần áo rách phải giữ lấy lề.

Những việc ấy, đều đáng để tâm hơn là việc bà N. Vậy mà tôi, dầu cả nghĩ, vẫn chỉ căn cứ vào thời cuộc mà tự rút ra những lí giải để gần ông hơn.

Chúng tôi, con cái trong nhà, sau cái chết của mẹ, thường bảo nhau, chăm sóc đầy đủ về vật chất cho ông. Đời sống khá dần lên, từ dâu tới rể ai cũng quan tâm, “nhất” phải là ông!

“Bà N. mất rồi đấy!”. Ông cất tiếng cắt ngang dòng suy tưởng của tôi.

Tôi quay sang nắm lấy bàn tay ông. Bàn tay khẳng khiu, đầy gân xanh quấn quanh những đốt xương, nhưng luôn ấm. “Hai tháng trước Tết. Không ốm đau gì. Bà ấy đi, thế là thanh thản, nhẹ nhàng”.

Nói tới đấy thì trên đôi mắt đã đục của ông ứa ra hai hàng nước mắt. Tuổi già hạt lệ như sương! Bao nhiêu năm nay, tôi không hề thấy ông khóc. Kể cả những khi đau đớn nhất. Vậy mà bây giờ ông lại khóc, chắc hẳn mối tình cũ của ông với bà N. vẫn nặng nợ lắm sao?

- Cậu thực có lỗi lớn với mẹ con. Cậu là vô tâm nhất. Bao nhiêu năm, cứ để mợ quán xuyến hết việc nhà. Tới khi mợ con mất mới chẻ hoe là nợ chất chồng nợ, mười năm chiến tranh. Toàn bộ lại đè nặng lên anh chị em các con, ăn không đủ lại còng lưng trả nợ.

Lỗi ở cậu. Ngày cuối cùng, lúc mợ con còn tỉnh táo, từ trường sơ tán, cậu không về kịp, ở bên mà chia sẻ, thì có quyền chia sẻ gì với bà N.? Người tri kỉ một thời trẻ xưa, chắc cũng vui lòng.

Cậu tin vậy! Những sự gian truân của người đàn ông, do thời cuộc hay số phận, cuối cùng đều đè nặng lên đôi vai người đàn bà trong một gia đình.

Tại sao lại là số phận? Có cái cũng mình gây ra chứ? Tôi hỏi. Ông chậm rãi kể: “Tham gia Việt Minh, cậu bị giặc Pháp bắt hai lần. Lần thứ nhất trốn thoát cùng hai du kích nữa. Lần thứ hai, tên quan ba Pháp, tàn ác nhất Thái Bình, trưởng bốt Quỳnh Lang, hóa ra lại là thằng đam mê hội họa.

Bắt được cậu, đối cận tên cầm đầu Việt Minh trong vùng, nói tiếng Pháp lầu lầu là họa sĩ Boda. Nó cũng chưa tin! Bọn nông dân Anamit sao có thứ tài hơn nó!

Rõ về cậu, nó nói chuyện với cậu tới gần sáng, quẳng sơn, cọ, vải, buộc cậu vẽ rồi tha ngay và, để sớm sau tỉnh rượu, nó lùa ngay gần hai trăm mạng dân lành, du kích vào nhà thờ Quỳnh Lang phóng lửa đốt sống. Ai tin cậu nữa? Ai có thể tin vào câu chuyện vô lý như vậy?

Tôi hình dung, trong ánh dầu bập bùng cháy, ông biết mai chết, vẫn bình thản vẽ chân dung kẻ xâm lược tàn bạo hôm nay. Bức chân dung, màu rượu vang đỏ sậm là màu chủ đạo. Ánh lửa đỏ như máu, chập chờn soi rõ khuôn mặt đầy ưu tư của chàng trai Paris dang dở đường tài, đường yêu.

“Nó giơ bức chân dung của nó lên con ạ. Nhìn mãi và quát nhặng lên, sặc sụa hơi rượu: “Biến, biến ngay!”. Cậu chạy…chạy khi nó theo sau hua súng lục, bắn loạn xạ sau lưng! Chả ai hiểu gì cả, cậu cứ đinh ninh có một phát nó dành cho mình!

Tới cầu Dầu  xuống rửa mặt, uống ngụm nước sông và, tự hỏi: Chút nữa, lúc chiều, mình tự lao xuống đoạn sông này, cái mũi lê cứ gạt cậu vào giữa. Được sống! Ai mà chẳng sợ chết?”.

Con tin cậu không? Ông nói. Bà N. cũng không tin, khi cậu quay về thành. Chẳng một ai tin cả! Chỉ có người duy nhất tin cậu là mẹ của con thôi, thế mà…

Năm 2000 ông đau nặng. Ông cố chờ tôi về, qua cái tết mới đi. Quân quầy bên ông là những bức tranh hầu hết vẽ cảnh trí Việt, Cổng làng, Hồ Gươm, Những người yêu ca trù, Ô quan Chưởng v.v...…là ba cây đàn dân tộc tự chế và, chúng tôi, những đứa con của ông.

Bốn ngày sau. Tôi và chị cả sắp xếp căn xép cũ. Tiền ở khắp nơi! Cả những gói tiền tôi biếu ông từ 1990, nguyên thếp, dính chặt vào nhau. Cả những tờ trăm ngàn, thơm mùi mực em trai tôi hôm nao lĩnh tiền giải thưởng Phim v.v... Tổng số 17 triệu! Lại sổ tiết kiệm, cũng có tiền của một lương hưu còm, vài trăm ngàn một tháng.

Tôi không khóc, trân trân nhìn vào miếng vàng 1 kí lô, mà bữa nào còn xông xênh, tôi mang về đưa cho ông dặn, cần gì, ông cứ “thiên nhiên” nhé! Nhớ lắm! Khi ấy ông cười và đạp thẳng bàn chân vào...

Berlin - đông 2007

Video đang được xem nhiều

Cùng chuyên mục

Xem thêm Văn nghệ

Mới - Nóng

Khám phá