Cơ nhỡ đàm đạo thơ

TP - Không ai muốn quay về thời nghèo khổ. Nhưng sao tôi vẫn thèm sống lại thời Hà Nội sau chiến tranh ấy. Lại đạp xe cả đêm. Lại cuốc bộ nửa ngày. Trong túi không tiền, trên đầu không mái ấm, vẫn sống ung dung. Vì có bạn bè.

Mỗi lần đạp xe từ Hải Dương về Hà Nội, tôi hay tá túc nhà thi sĩ Trúc Thông. Anh lớn hơn tôi 6 tuổi, nhưng coi nhau như bạn bè. Bà mẹ Trúc Thông là điển hình cho một bà mẹ nông dân nghèo miền Bắc, dù nhà bà ở ngay Thủ đô-16 phố Hồng Phúc, cạnh vườn hoa Hàng Đậu. Công việc chính của bà là nuôi lợn, và lo chuyện bếp núc. Còn Trúc Thông, anh nhận một nhiệm vụ bất di bất dịch, là lấy nước gạo từ các nhà hàng xóm, vào đúng tầm 7 giờ tối. Xong việc thì có thể đi chơi. Bao giờ tôi cũng đợi Trúc Thông xong việc, sau đó anh em thong dong đạp xe qua các phố phường Hà Nội. Ngày ấy Hà Nội còn vắng xe cộ lắm, phương tiện giao thông hầu hết là xe đạp. Người đi bộ cũng rất đông. Gần như không thấy tai nạn giao thông. Chúng tôi cứ đạp xe chầm chậm trên phố, vừa chuyện trò say sưa. Chuyện thơ. Chuyện tình yêu. Chuyện bạn bè khắp cả nước. Thi thoảng, lại ghé hàng chè chén năm xu. Bấy giờ cuộc đời sao thanh thản lạ lùng. Và tốn rất, rất ít tiền. Vào một lúc đạp xe lang thang như vậy, tôi chợt nói với Trúc Thông về một cô gái tôi mới gặp ở nhà Trần Nguyên Vấn. Gặp chứ chưa quen. Tôi có vẻ thích cô gái này. Hóa ra, Trúc Thông cũng biết cô ấy. Anh nói, cô thuộc nhóm những học sinh Huế lên chiến khu rồi ra Hà Nội học, cùng với mấy anh lớn hơn là hai nhà thơ Trần Vàng Sao và Nguyễn Hữu Ngô. Vậy thì tôi cũng biết. Trước khi đi B, tôi đã đọc thơ Nguyễn Hữu Ngô và Trần Vàng Sao, những bài thơ khác lạ so với thơ miền Bắc hồi đó. Biết cô gái này đang học lớp báo chí, tôi đề nghị Trúc Thông đi cùng tôi lên trường gặp cô ta. Trúc Thông vui vẻ nhận lời. Hôm sau, hai chúng tôi đạp xe lên trường, nhờ bác thường trực kêu cô gái ra cổng, có khách. Nhờ cô gái có quen Trúc Thông, nên tôi đỡ quê, chuyện trò rất hồn nhiên thân mật. Hóa ra, được. Cô gái ấy sau này là vợ tôi, và chúng tôi vừa kỷ niệm 40 năm ngày mới quen nhau. Chính là cái lần quen khi tôi đi cùng Trúc Thông lên trường báo chí. Tháng 9 năm 1975.

Có người yêu, vẫn…lang thang cơ nhỡ. Cũng chả có gì lạ, khi người yêu không gia đình ở miền Bắc, chỉ nội trú trong trường. Còn tôi thì vẫn đạp xe rong ruổi Hải Dương-Hà Nội, vẫn tá túc nhà bà con hay bạn bè, vẫn cùng Định Nguyễn rượu 109 phố Huế, tiền trong túi vẫn có có không không. Tôi nhớ một lần đạp xe từ Hải Dương xuống Hải Phòng chơi. Không quen ai, chỉ đạp xe qua các con đường đẫm vị cần lao của thành phố Cảng. Buổi chiều, nhìn những công nhân Cảng cởi trần đi trên phố tìm bia hơi, tôi rất ấn tượng. Có lẽ đây là thành phố duy nhất trong nước mà công dân của nó cởi trần đi ra đường một cách hồn nhiên, “phanh ngực áo và mở trần bản chất” đúng tính cách người Hải Phòng. Chơi chán, tôi lại ra ga, mua vé tàu xuôi Hà Nội. Mất khoảng 5 tiếng đồng hồ để về ga Hàng Cỏ. Nhưng tôi có thời gian. Cái tôi giàu có lúc ấy, chính là thời gian.

Những người lang thang cơ nhỡ trên khắp thế giới này đều có nét giống nhau: họ dư thừa thời gian. Sau này tôi đã gặp ở Paris một ông già lang thang cơ nhỡ, trước quán cà phê de Flore nổi tiếng, nơi J.P.Sartre từng “ngồi đồng” mỗi sáng và viết bộ tiểu thuyết “Những ngả đường Tự do”. Ông ta nuôi một con chó làm bạn, và ông ủ nó trong một cái bao tải. Con chó thò đầu ra từ bao tải, nhìn tôi một cách thân thiện. Con chó lang thang và người già cơ nhỡ, đó là hai ngả đường của tự do. Hai bản thể của một tồn tại. Hai thân phận của một số phận. Và họ đều dư thừa thời gian. Ngồi trong quán cà phê Flore mà nghĩ như thế, cũng tạm coi là được. Triết học xuất hiện khi nó nói về tha nhân, về người khác. Còn năm 1975 ở Hà Nội, tôi không biết mình là ai, giữa người già cơ nhỡ và con chó lang thang ? Có thể tôi là cả hai. Và không có một chút triết học nào ở đây cả. Chỉ có thơ. Hơn nửa năm trời lang thang cơ nhỡ tôi đã viết khá nhiều thơ. Không bốc phét, chứ nhiều bài trong số đó là những bài thơ hay. Thơ khác triết học ở chỗ nó chỉ nói về chính thân phận người viết. Không bao giờ khái quát, thơ cụ thể tới mơ hồ, cụ thể tới đau đớn. Nó bay lên từ vũng lầy của cuộc sống thường nhật.

Chỉ tiếc bây giờ thi sĩ Trúc Thông đã không còn nói được. Anh bị đột quị từ nhiều năm nay, và chỉ còn biết làm bạn cùng im lặng. Nếu Trúc Thông nói được, anh với tôi chắc còn đàm đạo về thơ. Một điều mà bây giờ chả ai buồn làm.

Nhưng đàm đạo về thơ rất thú vị, dù không phải ai cũng thích. Thơ rất dân chủ, ở chỗ ai cũng có thể nói về thơ mà không sợ sái. Dù nói sai đi nữa cũng không ai bắt bẻ. Vì thơ thật rộng, nó như cuộc đời vậy. Không ai bắt bẻ về cuộc đời, thì cũng đừng ai bắt bẻ thơ.

Tôi may mắn bắt đầu làm thơ khi cả cộng đồng mê thơ. Ngày miền Bắc chống chiến tranh phá hoại của Mỹ, thơ lên ngôi như một tiếng nói nội tâm đầy sức mạnh. Nó thôi thúc và thủ thỉ, nó đẹp và hùng. Trong chiến tranh, con người cần mạnh mẽ để có thể sống qua những thời khắc nghiệt ngã nhất. Thơ có mặt bên cạnh con người vào đúng lúc con người cần bạn bè, cần đồng đội, cần sự sẻ chia. Bây giờ, đọc lại tuyển tập thơ chống Mỹ, nhiều bài thơ trong đó vẫn khiến tôi xúc động. Chỉ mấy câu thơ viết về Hải Phòng, Đào Nguyễn (bút danh của NSND Đào Trọng Khánh) đã mê hoặc tôi hoàn toàn. Hay thơ của Nguyễn Mỹ trước lúc anh đi chiến trường, những bài thơ vừa lãng mạn vừa quyết liệt, nó như tiếng còi tàu trong đêm chia tay.

Nửa cuối năm 1975 vẫn còn nguyên không khí thơ ca. Khi tôi ra Hà Nội, nhiều bạn thơ, trong đó có những người tôi chưa quen, đã tìm đến thăm tôi. Họ thích chùm thơ 13 bài của tôi in trên tạp chí “Tác phẩm mới”. Họ thích hai bài thơ không có trong chùm thơ ấy: “Thử nói về hạnh phúc”, và “Một người lính nói về thế hệ mình”. Tôi vừa cảm động vừa vui, vì nghĩ mình đã đi đúng hướng. Bao nhiêu người nằm lại ở chiến trường, nằm lại trên Trường Sơn, họ cần một tiếng nói về họ, về thế hệ đã hy sinh mất mát đến thế, mà có thể chả được gì. Thơ không thể im lặng, hay đãi bôi. Thơ cũng không thể lên gân, hay tuyên truyền. Nhất là nó không thể háo danh. Nơi nào sự háo danh trào lên, là nơi ấy thơ bặt tiếng, thơ bị buộc phải “rút vào bí mật”. Tôi muốn làm thơ như trẻ con vẽ nguệch ngoạc trên cát. Có khi còn lại, có khi không. Nhớ một lần đi thực tế với nhà thơ Xuân Diệu, ông nhận xét sau khi đọc mấy trang bản thảo của tôi viết về Nguyễn Du:  “Cậu hiền, mà sao thơ cậu dữ thế ?”. Tôi không nghĩ thơ mình dữ theo kiểu “dữ tợn”. Có lẽ nó có phần dữ dội, nhất là trong khoảng thời gian cuối những năm 70 và đầu những năm 80.

Video đang được xem nhiều

Cùng chuyên mục

Xem thêm Văn nghệ

Mới - Nóng

Khám phá