Đối thoại với nhà văn Nguyên Ngọc:

Đừng nghĩ mình khôn ngoan hơn cuộc sống

"Tôi thường nghĩ nếu không có may mắn được sống ở Tây Nguyên có lẽ tôi đã không trở thành nhà văn. Tôi luôn muốn được nói hoài, nói mãi về Tây Nguyên - một vùng văn hóa hết sức đặc biệt..." Nhà văn Nguyên Ngọc tâm sự.

Tây Nguyên có thể giúp chúng ta suy nghĩ về rất nhiều vấn đề, cả những vấn đề đang đặt ra trong xã hội ta hiện nay.

Chẳng hạn về vai trò của làng. Một trong những đặc điểm văn hóa rất độc đáo của Việt Nam là làng. Văn hóa làng của chúng ta hết sức bền vững. Có thể nói một cách tóm lược: bên trên là Nhà nước Trung ương tập quyền mạnh, nhưng bên dưới là đời sống tương đối độc lập và khá thoải mái của làng.

Thời phong kiến, quyền lực của Nhà nước Trung ương về cơ bản cũng chỉ dừng lại bên ngoài lũy tre làng. Hay cả trong 100 năm Pháp thuộc, về cơ bản văn hóa Pháp chủ yếu ảnh hưởng đến các thành phố chứ không vào được làng Việt Nam.

Mối quan hệ giữa làng và nước là mối quan hệ đặc biệt trong lịch sử xã hội Việt Nam, khi nào mối quan hệ này hài hòa thì đất nước ổn định, phát triển, và ngược lại.

Ngày xưa ở trong làng có Hội đồng hương chính bao gồm những người được dân làng tin cậy, đứng ra tổ chức đời sống tự quản của làng. Như thế chúng ta vừa có tập trung quyền lực ở Trung ương vừa có sự dân chủ trong làng.

Đương nhiên về sau dần dần quyền lực phong kiến Trung ương lấn ngày càng sâu vào tổ chức tự quản của làng, cuối cùng đã khiến cái hội đồng vốn là tổ chức dân chủ của nhân dân ấy tha hóa  đi, trở thành tay sai của chính quyền phong kiến trung ương, bóc lột, nhũng nhiễu dân ...

Nhưng chớ nên vì thế mà không thấy đúng vai trò đặc biệt của làng trong tổ chức xã hội và trong văn hóa  Việt Nam... Tổ chức hội đồng già làng vẫn tồn tại ở Tây Nguyên hiện nay chính là dấu vết của kiểu tổ chức làng xã độc đáo thời xưa đó.

Vậy nên, về nhiều phương diện, nghiên cứu thấu đáo Tây Nguyên hiện nay có thể giúp ta tìm hiểu xã hội Việt Nam thời xưa. Có thể nói Tây Nguyên là một bảo tàng sống về văn hóa của những tộc người từng sống trên dải đất nay là Tổ quốc ta thời ảnh hưởng của văn hóa Hán và văn hóa ấn chưa phủ lên vùng này.

Tôi xin nhắc lại: Tây Nguyên là một bảo tàng sống về văn hóa cổ. Mà như chúng ta đều biết, khi vào một bảo tàng, luôn có ghi lời nhắc: “Cấm sờ vào hiện vật!”.

Nghĩa là làm bất cứ việc gì ở Tây Nguyên hiện nay, cần luôn nhớ chúng ta đang làm giữa một bảo tàng sống, phải hết sức thận trọng. Không thể đối xử với Tây Nguyên ngang bằng như đối xử với bất cứ nơi nào khác. Tiếc thay, vừa qua chúng ta đã không có được sự thận trọng cần thiết đó.

Nhưng tìm hiểu về Tây Nguyên  thế nào đi nữa mục đích cũng là để giúp Tây Nguyên phát triển, thưa ông?

Đúng vậy! Và muốn Tây Nguyên phát triển trước hết phải hiểu đặc điểm hết sức riêng biệt của Tây Nguyên. Nó không giống vùng Kinh, tất nhiên rồi, và nó cũng không giống với bất cứ một vùng nào khác trên đất nước ta.

Tây Nguyên đương nhiên phải thay đổi, phải tiến lên cùng với cả nước, nhưng vấn đề đặt ra là làm thế nào để sự thay đổi đó không gây ra đổ vỡ, gãy đứt về văn hóa, sẽ hết sức nguy hiểm. Văn hóa Tây Nguyên có hai đặc điểm rất lớn.

Thứ nhất, đơn vị cơ bản và duy nhất của xã hội ở đây là làng- đây là đặc điểm vô cùng quan trọng. Truyền thống văn hóa Tây Nguyên không có ý thức về một cộng đồng nào lớn hơn hoặc cao hơn cộng đồng làng. Trong tất cả các ngôn ngữ Tây Nguyên không có từ nào chỉ đơn vị cao hơn làng.

Mặt khác, người Tây Nguyên cũng chưa có ý thức rõ rệt về cá nhân. Ví dụ hỏi một người nào đó tên anh ta là gì thì phản ứng đầu tiên của họ là trả lời: Tôi là người của làng nào đó. ở Tây Nguyên, hình phạt nặng nề nhất, sự nhục nhã, đau đớn nhất đối với một con người không phải là bị đánh đập hay bị giết, mà là bị đuổi ra khỏi làng. 

Thứ hai, rừng núi Tây Nguyên mênh mông như thế nhưng tất cả đều có chủ chứ không phải vô chủ. Từ ngàn xưa, rừng núi đó đã được phân chia một cách hết sức cụ thể, rõ ràng, bền chặt cho từng làng. Tức ở đây, từ ngàn xưa, đã tồn tại quyền sở hữu tập thể của cộng đồng làng đối với đất và rừng.

Quyền này là tối thiêng liêng, đã được “Giàng” (tức Thần linh, Trời) giao cho từng làng, tuyệt đối không ai được xâm phạm hay làm ô uế. Đất và rừng này do hội đồng già làng cai quản, phân chia cho từng hộ để canh tác, theo một hệ thống luật tục chặt chẽ. Về nguyên tắc, đất canh tác của các hộ có thể được chuyển nhượng cho nhau, nhưng tuyệt đối không được chuyển nhượng ra khỏi làng.

Nhà văn Nguyên Ngọc
Đất rừng có nhiều loại khác nhau. Thứ nhất, loại rừng đã biến thành đất thổ cư. Thứ hai, rừng sản xuất, ở đây dân thường làm rẫy. Thứ ba, rừng để khai thác phục vụ đời sống, như lấy gỗ, lấy mật ong, săn bắt thú...

Thứ tư, rừng thiêng, là nơi ngự trị của thần linh, không ai được động tới. Thường đây chính là rừng đầu nguồn, và dưới cái vỏ tín ngưỡng này, kỳ thực là tích lũy kinh nghiệm lâu đời của nhân dân về bảo vệ môi trường sống của mình.

Sở hữu tập thể của cộng đồng làng đối với đất và rừng chính là nền tảng kinh tế, vật chất của làng. Mất đi cái nền tảng này thì làng sẽ bị phá vỡ, xã hội tất rối loạn, con người bơ vơ, văn hóa tan tành...

Vậy mà thời gian qua, có thể rất vô tình, chúng ta đã làm chính điều đó. Bằng việc quốc hữu hóa tất cả đất và rừng, chúng ta đã bứng đi mất cái nền tảng ngàn đời của các tế bào cơ bản của xã hội Tây Nguyên, phá vỡ  nội lực của Tây Nguyên. Và lại đúng vào lúc Tây Nguyên đang phải đối mặt với những thách thức gay gắt của đổi thay.

Ông đã kiến nghị với Đảng, Nhà nước về những vấn đề đó để góp phần có các quyết sách hợp lý cho sự phát triển ở Tây Nguyên?

Tôi đã kiến nghị nhiều lần, bằng nhiều hình thức, tới nhiều người và nhiều cơ quan có quyền lực và trách nhiệm, kể cả đến nơi cao nhất. Tôi đã thẳng thắn nói rằng việc di chuyển một số lượng người quá lớn và với tốc độ quá nhanh lên Tây Nguyên là sai lầm, có thể đưa đến hậu quả khó lường.

Trong 30 năm qua, không nơi nào trên khắp nước ta có biến động dân số lớn và đột ngột như ở Tây Nguyên, từ gần một triệu lên đến gần năm triệu, và là tăng cơ học chứ không phải tự nhiên. Tăng cơ học với tốc độ quá lớn như vậy tất sẽ gây ra đảo lộn về mọi mặt và làng, tế bào cơ bản của xã hội bị phá nát.

Làng Tây Nguyên đang hồi sinh

Có phải chính vì thế mà ông đề nghị với lãnh đạo tỉnh Quảng Nam thực hiện một chương trình thí điểm giao trả rừng cho làng?

Quảng Nam có một vùng rừng núi là nơi cư trú của nhiều dân tộc ít người, chiếm đến 56% diện tích tự nhiên của tỉnh, về cơ bản không khác với Tây Nguyên. Những vấn đề xã hội đặt ra ở đây cũng tương tự như ở Tây Nguyên.

Cùng với bạn tôi là anh Đặng Nghiêm Vạn, cũng là người rất am hiểu và tâm huyết với vấn đề miền núi và dân tộc, chúng tôi có đề nghị với lãnh đạo tỉnh Quảng Nam nên chủ động trả rừng lại cho làng, và lãnh đạo Quảng Nam đã hoàn toàn nhất trí với chúng tôi.

 Đặc biệt đồng chí Bí thư Quảng Nam rất tâm đắc với vấn đề này. Thực ra làm như vậy là làm “chui” vì lúc bấy giờ, cách đây bốn năm năm luật pháp không cho phép điều này.

Luật Đất đai cho phép giao đất cho các “tổ chức xã hội”, nhưng làng lại không được coi là một “tổ chức xã hội” (trong khi một đơn vị bộ đội chẳng hạn lại được luật coi là đơn vị xã hội!). Sau nhiều bàn bạc, Tỉnh ủy và cả HĐND tỉnh quyết tâm làm, vì tin rằng như thế là đúng.

Nhà nước xây cho dân một cái miếu là vô lý

Việc đầu tiên thiêng liêng nhất của việc lập một làng Tây Nguyên là việc dựng nhà rông- cái hồn của làng, toàn bộ đời sống cộng đồng của làng diễn ra trong ngôi nhà rông ấy. Nhà rông cũng là nơi đối ngoại của làng. Nhà rông phải do bà con làm nhưng chúng ta lại có chủ trương sai lầm là làm “nhà rông văn hoá”, bỏ tiền ra khoảng 500-700 triệu để xây nhà rông cho bà con.

Tôi đã phản ứng cách làm này và nói với những người có trách nhiệm: ở đồng bằng nếu Nhà nước bỏ tiền xây một cái chùa, cái miếu thì có ai vào cúng lễ không? Chắc là không ai đến cúng cả. Đền, chùa, cũng như nhà rông là một sản phẩm văn hóa. Nó phải được đẻ ra từ một sự tích văn hóa nào đó trong đời sống tinh thần thật của người ta. Chứ Nhà nước đem cho dân một cái miếu là vô lý.  

(Nhà văn Nguyên Ngọc)

Thật ra chúng tôi vẫn còn một mối lo: Sau bao nhiêu năm bị phá vỡ như vừa qua, đến nay làng có còn không để chúng ta trả lại đất và rừng? Nếu trong thực tế làng không còn mà chúng ta cứ đem trả rừng, thì sẽ mất hết rừng, càng chết! Chúng tôi cùng tỉnh tổ chức 2 đoàn điều tra ở hai dân tộc quan trọng trên vùng núi Quảng Nam là dân tộc Cơ-tu và Cà-dong.

Kết quả chúng tôi khẳng định làng vẫn còn. Sự cố kết của cộng đồng làng vẫn còn, rất bền chặt, dân vẫn bầu ra già làng và hội đồng già làng. Trong thực tế, các trưởng thôn của chính quyền, các bí thư chi bộ Đảng ở làng muốn làm bất cứ việc gì đều phải xin ý kiến già làng, không có sự đồng tình của già làng thì không việc gì có thể thành công...

Nắm chắc được tình hình rồi, chúng tôi quyết định bắt đầu làm. Thí điểm ở 2 làng, rồi sau đó loang rộng ra. Đến nay đã giao trả rừng được cho 72 làng... Có lần tôi đã kể lại cho anh Trương Tấn Sang, Ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng ban Kinh tế Trung ương về việc “làm chui” này của chúng tôi ...   

Nghe ông kể chuyện ấy, ông Trương Tấn Sang nói lại với ông thế nào?

Anh Sang bảo vậy thì dẫn cho anh đi xem với. Năm 2004, Quảng Nam đã mời anh Sang về trực tiếp quan sát ở làng Tống-Coói thuộc huyện Đông Giang, nơi chúng tôi làm thí điểm đầu tiên. Buổi anh Sang đến, lãnh đạo huyện xã đều có mặt, nhưng không ai báo cáo mà để cho anh Sang hỏi trực tiếp, người dân trả lời.

Hôm anh Sang đến thì thời gian giao trả rừng cho làng đã được hai năm. Người dân nói rằng từ ngày giao rừng tuyệt đối không mất một cây gỗ nào. Đó là việc trong suốt 30 năm nay không có cách nào, không tổ chức nào, từ nông trường, lâm trường cho đến bộ đội, công an, kiểm lâm làm được. Quảng Nam có quyết tâm rất lớn và nhận thức rất triệt để trong việc giao trả rừng cho làng. Tỉnh chủ trương giao toàn bộ rừng cho làng, kể cả rừng quốc gia, rừng đầu nguồn, rừng bảo vệ ... Và từ nay toàn bộ rừng đó là tài sản tuyệt đối của làng.

Kiểm lâm chỉ kiểm soát về mặt lâm sinh, xem một cây gỗ đã đến tuổi được chặt chưa. Còn chặt hay không là quyền của làng, và Nhà nước muốn vào lấy một cây gỗ trong rừng thì phải mua của làng.

Như vậy có thể kết luận: Chủ trương giao trả rừng cho làng là đúng và đã thành công, trước hết ở một mục tiêu quan trọng: giữ rừng. Song còn một điều quan trọng hơn nữa: Trả rừng cho làng, khôi phục lại nền tảng vật chất của làng thì làng liền sống lại.

Thật vô cùng kỳ diệu. Là người đã sống ở miền núi bao nhiêu năm mà hôm đó tôi cũng cảm động đến không cầm được nước mắt. Được trả lại rừng, bà con lập tức dựng lại nhà gươl (tức là nhà rông ở vùng Cơ-tu), các cụ già dẫn thanh niên vào rừng tìm cây gỗ tốt nhất dựng nhà gươl, những người khéo tay nhất trong làng ngày đêm say sưa chạm trổ trang trí cột nhà gươl ...

Và những bà già suốt ba mươi năm qua không có chỗ để hát nay đêm đêm lại ngồi tại ngôi nhà gươl mới dựng hát các bài hát ngày xưa tưởng không còn ai nhớ nữa; các cụ già đến kể lại trường ca cho con cháu nghe suốt những đêm dài...

Khi mới chỉ làm thí điểm ở một vài làng, các làng khác nghe Nhà nước giao rừng lại cho làng cũng liền đua nhau dựng lại các ngôi nhà gươl. Cả một vùng rừng núi ngàn đời đang sống lại... Thấy vậy Sở Văn hóa - Thông tin tỉnh liền hăng hái chủ trương đi làm nhà gươl cho các làng.

Nhưng anh Bí thư tỉnh liền ngăn lại, anh bảo cứ để bà con tự làm. Cái nhà gươl tự tay đồng bào tự nguyện dựng lại mới thật sự là nhà gươl của làng, mới thật sự là sản phẩm văn hóa, tiêu biểu cho sự hồi sinh đẹp đẽ của làng, chứ không phải nhà gươl “quốc doanh”.

Xin nói thêm đôi nét về nhà gươl của làng Cơ-tu, đó là ngôi nhà lớn hình ô van hay hình tròn, ở giữa có một cây cột lớn được chạm trổ rất đẹp. Theo quan niệm của người Cơ-tu, chiếc cột đó là trung tâm của vũ trụ.

Nhà gươl biểu hiện cả thế giới quây tụ xung quanh cái trục vũ trụ đó. Kiến trúc của làng cũng thể hiện vũ trụ quan của người Cơ-tu. Làng bố trí theo hình ô-van, tất cả đều quay mặt vào ngôi nhà gươl là trung tâm của vũ trụ. Một chiều sâu văn hóa hàng nghìn đời đã sống lại.

Để các làng Tây Nguyên tự thay đổi

Nhưng đó mới chỉ là thí điểm, những bước đi tiếp theo mà các làng ở Tây Nguyên sẽ hướng tới là gì?

Đương nhiên đây mới chỉ là bước đầu. Muốn cho sự khôi phục này được bền vững, còn có một vấn đề rất lớn: phải làm sao cho các làng ấy có thể sống được và ngày càng khá giả lên, và đủ sức đương đầu với những biến động của công cuộc chuyển động chung đang diễn ra trên cả nước ta.

Bởi vì  văn hóa thế nào cũng biến đổi, các làng cũng sẽ biến đổi, sẽ hiện đại hóa. Thế nhưng không một nhà lãnh đạo, một nhà văn hóa uyên bác đến đâu có thể khẳng định cần phải thay đổi thế nào mới là đúng.

Tôi cho rằng về cơ bản cứ phải để các làng tự thay đổi, tự phát triển, và cần có lòng tin rằng khi đã có đủ nội lực (tức là đã tự khôi phục lại được sức mạnh văn hóa truyền thống của mình) thì làng, người dân làng, người dân miền núi sẽ tự họ biết tìm được cách biến đổi hay nhất. Đừng có nghĩ rằng mình khôn ngoan hơn dân, khôn ngoan hơn cuộc sống.

Để các làng của Tây Nguyên tự thay đổi?

Tổ chức lễ hội cồng chiêng có nên không?

Tôi nói thẳng văn hóa lễ hội bây giờ có nhiều cái rởm. Tôi nói một chuyện cụ thể. Chúng tôi đi làm bộ phim cần phải quay cảnh các cô gái dân tộc nhảy múa. Chúng tôi chuẩn bị rất kỹ, chỉ còn một việc là mượn bộ chiêng để đánh  cho các cô múa. 

Khi vào muợn thì bà con không chịu cho đánh chiêng trong làng. Đơn giản là vì ở Tây Nguyên tiếng chiêng là tiếng nói của con người với thần linh nó giống như người miền xuôi thắp hương lên bàn thờ khi muốn có một sự giao tiếp với thần linh. Việc đó là việc thiêng liêng, thế thì tự nhiên đánh chiêng trong làng sao được. Tôi đã có mấy chục năm lăn lộn ở Tây Nguyên mà tôi vẫn không hiểu về việc đó. Thế nên tôi muốn nói chúng ta vừa làm lễ hội cồng chiêng là “rất vô duyên”.  

(Nhà văn Nguyên Ngọc)

-Hiện nay đang đứng trước ngưỡng thứ hai, làng bắt đầu hồi sinh như thế nhưng nó sẽ sống và khá giả lên như thế nào? Tôi nghĩ rằng có lẽ bà con Tây Nguyên chủ yếu phải sống bằng nghề rừng. Rừng đã giữ được thì rừng sẽ phát triển, nếu chỉ đem bán cây gỗ thì cũng được nhưng thanh niên Tây Nguyên rất khéo tay.

Họ đã nghĩ tội gì mình không chế tác ra những sản phẩm gỗ để đem bán với giá cao hơn, món lợi thu về lớn hơn. Như thế có thể chăng nên giúp hình thành ở Tây Nguyên những làng nghề mộc. Như vậy đi đôi với việc trả lại rừng cho làng cần phải thực hiện đồng bộ một loạt công việc khác.

Chúng tôi đã điều tra thấy không ít làng ở đây có đến 20-30 em học sinh cấp 2, cấp 3, nhưng sau khi học xong các em thất nghiệp và trở về đi làm rẫy, vì ở trường các em cũng chỉ được học nào hạt nhân nguyên tử, nào vi phân tích phân ... như mọi học sinh khác. Lẽ ra giáo dục miền núi nên có kế hoạch đào tạo rất cụ thể cho từng làng bao nhiêu người giỏi nghề mộc, bao nhiêu người biết nghề lâm nghiệp, bao nhiêu y tá, bao nhiêu giáo viên...

Vừa rồi tôi có trở lại cái làng chúng tôi đã làm thí điểm đầu tiên, thấy sau khi được trả rừng dân đã trồng mây, cây mây đã cao đến 3 mét. Người Cơ-tu lại rất giỏi nghề đan lát. Tại sao chúng ta không phát triển nghề đan lát hình thành những làng nghề song mây ở đây?

Các cơ quan, các cấp cần giúp đầu ra cho sản phẩm của làng, kể cả sản phẩm xuất khẩu. Nếu không giải quyết theo hướng này, cái nghèo đói quay trở lại, thì đến một lúc nào đó người ta sẽ quay lại phá rừng. Sẽ rất nguy hiểm. Tôi biết Quảng Nam đang tính toán ráo riết bước tiếp theo này.

Đến để bàn, đừng đến để dạy bà con

Để xúc tiến thành công bước thứ hai, theo ông, điều cốt yếu nhất cần phải hướng tới là gì?

 Muốn làm được những việc ấy, trước hết cần có cách nghĩ đúng đắn.  Có những chân lý rất đơn giản, sâu sắc, nó đã tồn tại hàng nghìn năm thì đừng có coi thường.  Người Tây Nguyên đã biết sống với rừng hàng nghìn năm, cái gì đã tồn tại hàng nghìn năm thì tất phải có cái lý của nó.

Tôi đọc trong một tài liệu của UNESCO, thấy họ có nói một ý rất đúng là kinh nghiệm công nghệ của người dân bao giờ cũng rất sát thực tiễn. Bà con Tây Nguyên hàng ngày sống với rừng nên họ biết cách sống thế nào là hay nhất. Thế nên, muốn tìm lối ra cho bà con nên đến với họ, bàn với họ xem sao là tốt nhất, chứ đừng đến để dạy bà con.

Tôi được biết một số nơi ở Tây Nguyên đang bỏ tiền ra mua đất để trả lại cho đồng bào dân tộc. Nhưng tiếc rằng lại đem trả lại cho từng hộ. Như vậy thì chẳng khác nào lặp lại cái sai đã dẫn đến những hậu quả vừa qua như chúng ta đã biết. Cần phải trả lại cho làng, chứ không phải cho hộ.

Sau những biến động vừa qua, theo tôi người ta đã thấy vấn đề cơ bản ở đây là đất đai, nhưng mới thấy đất đai một cách vật chất, chứ chưa thấy vấn đề đất đai chính là vấn đề làng, một vấn đề văn hóa vô cùng sâu sắc. Không nhận thức sâu được chỗ này, thì sẽ không thể nào giải quyết được vấn đề.

Nhưng như thế thì trái Hiến pháp, trái luật, thưa ông?

Thế thì phải sửa luật, Luật Đất đai nếu chưa đúng với thực tiễn Tây Nguyên thì phải sửa, nước nào cũng làm như vậy. Ngay Luật Hồng Đức thời Lê Thánh Tông có điều quy định: “Cấm không được cho vay mượn giữa người Kinh và người man liêu (tức người dân tộc thiểu số)” ấy là vì cha ông ta đã hiểu rằng quan niệm về giá trị giữa người Kinh và người dân tộc thiểu số không giống nhau, vay mượn tất sẽ dễ sinh ra mâu thuẫn. Luật ở đâu và thời nào cũng phải có những điều đặc biệt để áp dụng cho từng đối tượng.

Xin cảm ơn ông.

Video đang được xem nhiều

Cùng chuyên mục

Xem thêm Văn nghệ

Mới - Nóng

Khám phá