John Irving - ở tuổi 63, vẫn đi tìm cha!

TPCN - John Irving hiện là một trong những gương mặt sáng giá bậc nhất trên văn đàn không chỉ ở Hoa Kỳ, bên cạnh Philip Roth hay John Updike. Ông sinh ngày 2 tháng 3 năm 1942 ở Exeter, bang New Hampshire.

J.Irving ở Ba Lan (9/2006)

Mẹ ông là hậu duệ của gia đình Winslow, một dòng tộc lâu đời nhất và sang trọng nhất ở New  England, vùng đông bắc Mỹ bao gồm các thuộc địa cũ từ thế kỷ XVII của Anh và các bang hình thành từ đó, Connecticut, Maine, Massachusetts, New Hampshire, Rhode Island và Vermont.

Ông là con hoang. Mẹ từ chối tiết lộ bí mật về người cha đẻ. Do đó, ông ở nhà bà ngoại cho đến năm bảy tuổi. Rồi mẹ kết hôn với Colin F.Irving, giáo sư sử học danh tiếng, chuyên về lịch sử Nga ở Viện Phillips Exeter lẫy lừng.

Ông được lấy họ bố dượng, trở thành John Irving, và đến sống cùng mẹ ở tư gia của vị giáo sư sẽ được ông coi là cha và đề cập đến trong các hồi ký của mình.

Ông học hành khá chật vật.Phần vì ông mắc tật khó đọc thành lời. Chữ của ông lại quá xấu. Phần vì ông quá ham sách, đổ vào sách quá nhiều thời gian.Càng lên cao, ông học càng khó khăn.

Tuy nhiên, ông vẫn vào được Viện đại học Phillips Exeter. Môn thể thao ông yêu thích nhất là đấu tay đôi. Ông mải mê luyện tập và thi đấu, nên nổi tiếng toàn vùng là một đấu thủ siêu hạng.

Về sau, ông hay chuyển trường, tùy theo đội đấu mà ông tham gia hay huấn luyện viên mà ông ngưỡng mộ. Môi trường đại học phong phú là  một nguồn chất liệu quý báu cho nghề văn về sau.

Trong thời gian học ở Exeter, ông may mắn gặp được những thầy giỏi như giáo sư văn chương George Bennett và nhà viết tiểu thuyết Frederick Buechner.

Hai vị này sẽ giúp ông rất nhiều trong thời gian ông tham gia Iowa Writers Workshop (Xưởng văn sỹ Iowa), chương trình đào tạo văn học uy tín nhất bấy giờ, nay vẫn là một trung tâm đào tạo văn chương cực kỳ hấp dẫn.

Năm 1963, ông được cấp một suất học bổng du học. Ông chọn học ở Vienne, thủ đô CH áo. Tại đây, ông gặp người vợ đầu tiên Shyla Leary, sinh viên lịch sử nghệ thuật. Họ kết hôn khi Shyla đã “mang bầu”.

Ông bà có hai con đều là trai, Colin (1965) và Brendam (1969). Cuộc sống vợ chồng khá êm đẹp, sung túc, song hai người vẫn chia tay nhau năm 1982, vì nhiều lý do tế nhị. Ông để lại khu biệt thự nông thôn gần thành phố nhỏ Putney cho bà. Một trong những kỷ niệm đẹp nhất trong hai mươi năm yêu nhau của ông bà là sự ra đời của đứa con đầu tháng ba 1965.

Chính sự kiện này tránh cho John Irving việc phải sang tham chiến ở Việt Nam. Một kỷ niệm đẹp khác là ông có thể tự hào nói rằng: “Bấy giờ, tôi là người đàn ông có gia đình, làm bố, và quay lại đấu vật.

Hoàn cảnh luôn giữ tôi ở xa hai thú vui “hút hồn” đánh dấu những năm 1960: ma tuý và tình dục”. Hai may mắn vừa đề cập sẽ giúp cho ông rất nhiều trong cảm nhận cuộc sống và định hướng văn chương. Một trong những vấn đề ấn tượng nhất trong tác phẩm của ông chống là “mê mệt xác thịt”.

Năm 1987, ông tái giá với cô Janet Turnbull, đại diện văn chương của mình. Bốn năm sau, ra đời đứa con trai thứ ba, éverett. Hai con trai lớn của ông đều là đấu sỹ như bố, đều hoạt động nghệ thuật. Đứa thứ ba còn đi học.

Hiện nay, gia đình ông sống chủ yếu ở khu Green Montains tươi đẹp, miền nam bang Vermont, ở giữa con đường nối New York và Montréal của Canada. Ông cũng hay đến lưu lại ở các biệt thự của mình ở hai nơi này. Đã mười lăm năm, ông phải từ biệt đấu trường.

Đương nhiên, ông vẫn rất phong độ và cường tráng. Ông viết văn ngay thời học đại học. Sau khi tốt nghiệp, ông giảng dạy ở nhiều trường. Ba tiểu thuyết đầu tiên được xuất bản vào các năm 1968, 1972 và 1974. Chúng không được hoan nghênh lắm, nên ông chưa thể sống được bằng văn chương.

Mơ ước này chỉ thành hiện thực từ 1978, với tiểu thuyết nổi tiếng nhất của ông Cõi đời theo ý Garp (tạm dịch The World according to Garp). Tác phẩm được đón đọc rộng rãi, được khen ngợi và tranh luận sôi nổi.

Tấn bi hài kịch ấy khiến gần như mọi người, công chúng và giới phê bình, ngạc nhiên. Nó cũng đề cập đến tình dục, nhưng với cái nhìn “lập dị”, bỡn cợt, quanh chuyện một người đàn bà suốt đời bị ám ảnh bởi “thú vui nhục dục”, song luôn tìm cách gạt bỏ và “diệt” nó đi.

“Thú vui nhục dục”, đó thực chất là thói hám lợi, tệ tôn sùng vật chất.  Có thể nói, nó là biểu hiện dễ hiểu nhất của lòng tham. Các nhân vật trong tiểu thuyết ít nhiều đều bị một quan hệ xác thịt cám dỗ và đều phải trả giá rất đắt cho sự nhu nhược của mình.

Con trai của người đàn bà, tức Garp, còn nghiệm ra rằng thú vui bản năng ấy thực chất là sự ngu ngốc của con người. Ước mơ của Garp là được sống trong một thế giới ổn định và chắc chắn. Nhưng thế giới vốn không ổn định vì sự ngu ngốc kia.

Do đó, phải chống lại thú đam mê xác thịt. Garp hợp sức với mẹ trong cuộc đấu tranh này. Bộ phim cùng tên cũng rất thành công. Như vậy, John Irving bàn về các vấn đề thời sự nóng bỏng của thời đại bằng một giọng điệu riêng, tuồng như châm chọc, chế giễu, pha trò.

Các tiểu thuyết tiếp theo của ông đều bán rất chạy. Chúng đề cập đến thói đạo đức giả, “đục nước béo cò”, lòng vị kỷ nguy hiểm, hậu quả chiến tranh, vẫn bằng một giọng tưng tửng, cười ra nước mắt.

Trong một chừng mực nhất định, ông đã trở thành “Dickens của thế kỷ XX”. Dickens là người được ông suy tôn là thầy duy nhất của mình. Dĩ nhiên, tấm lòng kiểu Dickens phải được biểu hiện khác hẳn thế kỷ XIX. John Irving vẫn nỗ lực theo hướng này.

Năm 2004, ông thông báo về cuốn sách mới của mình, “tác phẩm của cả một đời”, một “tiểu thuyết vĩ đại”. Nhân vật chính là Jack Burns, một diễn viên, đi khắp chốn cùng nơi để tìm người cha mà anh chưa được gặp bao giờ.

Tuổi thơ của anh bị hoen ố và rách tả tơi bởi bao lọc lừa của đồng loại, bởi sự dâm dật của một số phụ nữ chỉ coi cậu bé  là một đồ chơi. Do đó, cậu càng nôn nóng gặp cha, người chắc chắn thương yêu cậu, chỗ dựa của cậu... Đề tài “về nguồn” này được gợi ý từ tiểu sử tác giả.

Như đã biết, John Irving không bao giờ biết mặt cha. Cha rời xa mẹ trong Đại chiến II và mẹ không hề cho ông biết tí gì về người đàn ông mà vĩnh viễn ông không hiểu có yêu mẹ không và được mẹ yêu thế nào. Lớn lên, ông biết rằng cha là phi công chiến đấu, và mẹ nhất định không cho cha gặp lại con.

Khá lâu về sau, ông mới quyết tìm cha bằng được. Song thực tế, cha mất đã năm năm rồi. John Irving cũng thổ lộ rằng hồi 11 tuổi, ông bị một cô gái 20 tuổi lạm dụng tình dục. Chuyện này tác động xấu đến tâm hồn ông. Ông cũng tìm hiểu được rằng từ cuộc chiến Việt Nam, không một ai trong đợt gọi lính cùng ông ở quê trở về.

Những chuyện ấy ám ảnh ông rất lâu. Từ cuối những năm 1990, ông bắt đầu thai nghén cuốn tiểu thuyết thứ 12, Con sẽ tìm thấy cha (Until I Find You). Không như mấy kiệt tác trước của ông, Con sẽ tìm thấy cha, khi ra mắt năm ngoái, không được chào đón “đồng lòng nhất trí”.

Một số nhà phê bình còn chê nữa. Đó là vì, đề tài lần này có phần lạc lõng và dường như cũ kỹ. Lại nữa, lối viết có vẻ “cổ” rồi! Thế nhưng những nhà văn lớn lại nhiệt liệt chúc mừng. Chẳng hạn Stéphen King hay William Boyd.

John Irving buộc phải lên tiếng gần đây, khi cuộc bàn luận về Con sẽ tìm thấy cha vẫn mỗi lúc một căng thẳng. Ông tin vào mình, tác phẩm của ông không hư cấu hoàn toàn mà dựa nhiều vào tiểu sử tác giả, và những điều mắt thấy tai nghe.

Ông tỏ ý tin vào công chúng rộng rãi, nhất là những người dân thường. Ông biết họ thích các tác phẩm của ông. Không ít người đọc đi đọc lại một cuốn vài lần. Có người không kìm được nước mắt. Có người quá xúc động, phải tạm dừng đọc, để sau đọc tiếp.

Có lẽ ông nhận thức được rằng văn ông đã chạm đến được những miền sâu kín của họ, ví như lòng ân nghĩa hay sự phân minh - hẳn được họ coi là bộ luật không lời cốt lõi của cõi đời. Cũng như họ, khi Gunter Grass bị lôi thôi nhân chuyện thú nhận “quá khứ phát xít”, ông lập tức công khai bảo vệ Grass.

Hay biết tin J.k.Rolling sẽ cho Harry Potter chết ở tập VII, tập cuối cùng của bộ truyện được cả trẻ thơ lẫn người lớn trên toàn cầu say mê với lượng phát hành đã khoảng 350 triệu bản, ông đã tổ chức họp báo, tha thiết đề nghị nữ nhà văn Anh đừng làm như vậy...

Video đang được xem nhiều

Cùng chuyên mục

Xem thêm Văn nghệ

Mới - Nóng

Khám phá