Nói thêm về Nguyễn Bính

Kỳ 2: Ðâu rồi cánh buồm nâu

TP - Cách mạng đến, Nguyễn Bính gia nhập đội ngũ văn nghệ sĩ cách mạng Nam bộ. Pháp tái chiếm Nam bộ, Nguyễn Bính tham gia kháng chiến. Có lẽ khi ấy là một giai đoạn đắc chí của đời ông.

Gia đình nhà thơ Nguyễn Bính. Ảnh: TL gia đình.
Gia đình nhà thơ Nguyễn Bính. Ảnh: TL gia đình.

Dấu vết giai đoạn này còn lưu trong ca từ bài hành khúc Tiểu đoàn 307. Cuộc sống ông hoàn toàn thay đổi. Thơ cũng vậy. Không còn mơ mộng thuở chân quê, cũng giã từ cả bi lụy lẫn bi phẫn. Ông làm thơ chiến đấu. Hãy đọc qua các tên bài; Đồng Tháp Mười, Hành quân, Máu chảy trên đường phố (viết sau cuộc biểu tình ở Sài Gòn 9/1/1950, trò Trần Văn Ơn hi sinh) để hình dung sự chuyển đổi đầy tính tự nguyện và tự giác của nhà thơ. Và đây, thơ sau ngày chia cắt đất nước 1954: Chỉ một cây cờ, Thao thức, Thương nhau... Sau khi tập kết ra Bắc, đối với ông là trở lại quê hương, thơ ông nhập vào dòng thơ miền Bắc với hai mảng chủ đề: Đấu tranh thống nhất đất nước và xây dựng CNXH. Bài thơ thường dài hơn trước vì muốn kể đầy đủ những đổi thay của cuộc sống, vì để kêu gọi thi đua sản xuất, để cổ vũ ý chí chiến đấu và ca ngợi chiến thắng... Nhà thơ đã làm trọn trách nhiệm công dân nhưng thơ lại vơi hụt đi rất nhiều phong vị say đắm của Nguyễn Bính trước kia. Từ biệt vợ con, lên tàu tập kết ra Bắc, một đề tài tình cảm, mà với Nguyễn Bính, vốn là đất “dụng võ” của ông. Nhưng Nguyễn Bính đã lột xác, hương đồng gió nội đã bay đi, thay vào tình cảm vợ chồng là lời động viên chung chung có tính phổ cập:

Càng xa cách càng thù đế quốc/ Càng sục sôi nợ nước tình nhà/ Trên đường nhiệm vụ đôi ta/ Kẻ đi người ở đều là vinh quang.

Kỳ 2: Ðâu rồi cánh buồm nâu - ảnh 1 Lăng mộ Nguyễn Bính ở quê nhà.

Đâu rồi một tài năng tiếng Việt kì diệu. Và đâu rồi những cảm xúc tinh tế, hàm súc. Cũng trong cái nhìn lưu luyến lúc chia xa, trước đây: Cánh buồm nâu, cánh buồm nâu, cánh buồm... Với tôi, đến nay, chạm tuổi tám mươi rồi, vẫn cứ kinh ngạc như lần đầu đọc nó trong một quyển sách mỏng mất bìa, ở tuổi 12. Sau này được đọc Lý Bạch, bài tiễn Mạnh Hạo Nhiên, ông nhà thơ đời Đường Trung Hoa lặng đứng trông theo cánh buồm bạn cô đơn, mất hút phía trời xa xanh thẳm. Cô phàm viễn ảnh bích không tận. Gói gọn cả mênh mông trời đất, lẫn lòng mình sâu thẳm và bóng bạn dần xa, chỉ trong một câu thơ tả cảnh rất ít nét. Câu thơ Nguyễn Bính cũng ít nét, còn ít nét hơn, chỉ ba chữ, một hình, mà thấy đủ khoảng xa của cánh buồm, khoảng rộng của trời đất và khoảng sâu thẳm của lòng người. Câu thơ có hình: cánh buồm nâu nhỏ dần, nhỏ dần rồi chỉ còn một chấm định vị không rõ hình, không rõ sắc. Lại như có tiếng, tiếng người ở gọi người đi. Tiếng gọi chới với, như hụt hơi, như khuỵu xuống, lặng câm giữa chừng câu. Hàm súc không cùng, tinh tế kì diệu, sao bây giờ lại giản đơn đến vậy! Tôi không thể nhận ra Nguyễn Bính khi ông viết đấu tranh cho thống nhất đất nước ngay sau Hiệp định Genève 1954:

Lột mặt nạ nó ra cho vội/ Chặn bàn tay nó lại cho nhanh/ Phải sao bắt nó thi hành/ Đúng theo Hiệp định chúng mình mới nghe.

Từ 1945 đến khi mất, 1966, hơn 20 năm thay đổi đời, thay đổi thơ, Nguyễn Bính vẫn viết đều. Số bài thơ có ít hơn nhưng số câu thơ chắc không ít vì bài thơ bây giờ dài ra, nhiều sự việc, nhiều lí lẽ nhưng không nhiều cảm xúc, không nhiều trí tuệ và cũng không nhiều sáng tạo. Tôi cũng thấy từ những năm 60, Nguyễn Bính có những bài hay, tuy chưa hay bằng trước.

Ông có mấy giải thơ nhưng không phải giải cao. Những chỗ hay ấy, đọc kĩ, lại thấy chúng ít nhiều thoát thai từ cảm xúc của chặng thơ trước. Thí dụ bài Xây nhà máy, mấy câu được nhiều người khuyên son lại là mấy câu chất liệu của thời trước. Một bến đò, một mùi ngô nướng, những mái chèo khua, đến cả vầng trăng cũng sáng theo nếp cũ:

Trăng suông sáng cả tối hôm rằm/ Bến đò ai quạt thơm ngô nướng/ Mái mái chèo khua rối bóng trăng.

Trong các bài Đêm sao sáng, Chiều thu và một số đoạn trong các trường ca về lịch sử huyền tích, về quê hương Nam Định... chỗ thành công của Nguyễn Bính cũng nằm trong hơi hướng đó.

Tại sao lại thế? Tôi chắc nhiều bạn đọc và nhất là các nhà nghiên cứu cũng nhận ra hiện trạng này, đặt ra câu hỏi này. Mà không chỉ với Nguyễn Bính, còn ở những tác giả khác nữa. Tôi chắc ít nhiều các vị cũng đã tự trả lời. Trả lời cho riêng mình chứ chưa viết ra. Có thể do những tình thế tế nhị của thời cuộc dạo ấy. Nhưng hôm nay, tuổi Nguyễn Bính đã tròn thế kỷ, những nhà thơ đồng trang lứa với ông đã xa khuất gần hết. Chúng tôi, lứa đàn em, ngắn hay dài cũng từng được thở chung khí quyển văn chương với ông cũng đã vào cõi hiếm. Chúng tôi thấy có trách nhiệm làm rõ những nghịch lí, những tồn nghi để, con em ta khỏi tốn công sàng lọc thực hư khi sự kiện đã bị thời gian che phủ.

Tại sao thế, câu hỏi này bây giờ nhiều lắm. Hỏi vào đâu, hỏi vào lúc nào cũng đáng được trả lời. Trả lời minh bạch, khúc chiết. Không thể mũ ni che tai, tìm về ở ẩn. Hôm nay, trước vong linh bậc tiền bối tài năng mà trong phần đời trần thế cũng nhiều phen lận đận, tôi xin được lý giải. Rất mong được các bác các anh chị cao niên lịch lãm và các bạn trẻ tuổi vốn tinh nhạy, thông tuệ nhuận sắc cho.

(còn nữa)

“Chúng tôi thấy có trách nhiệm làm rõ những nghịch lí, những tồn nghi để, con em ta khỏi tốn công sàng lọc thực hư khi sự kiện đã bị thời gian che phủ”.

VŨ QUẦN PHƯƠNG

Từ những năm 60, Nguyễn Bính có những bài hay, tuy chưa hay bằng trước. Ông có mấy giải thơ nhưng không phải giải cao. Những chỗ hay ấy, đọc kĩ, lại thấy chúng ít nhiều thoát thai từ cảm xúc của chặng thơ trước.

Video đang được xem nhiều

Cùng chuyên mục

Xem thêm Văn nghệ

Mới - Nóng

Khám phá